Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào cơ quan bị viêm. Nếu vi khuẩn trú ngụ ở bàng quang, tức viêm bàng quang, việc viêm nhiễm không mấy nghiêm trọng. Nhưng nếu vi khuẩn xâm nhập tới thận, tức viêm thận, tính chất viêm nhiễm trong trường hợp này lại trở nên nghiêm trọng và cần phải đi khám phụ khoa ngay lập tức để được điều trị kịp thời.

Ngoài ra, nguyên nhân chính gây viêm đường tiết niệu là quan hệ tình dục.

    Điều trị bằng kháng sinh

Viêm đường tiết niệu ở nữ không điều trị sớm sẽ làm giảm chức năng của bàng quang hoặc thận ở cả nam giới và nữ giới, thậm chí hệ tiết niệu có thể bị tổn thương vĩnh viễn. Cách điều trị thông thường đối với bệnh này là sử dụng kháng sinh diệt vi khuẩn. Đặc biệt là cần phải chữa trị dứt điểm và vệ sinh đúng cách nếu không bệnh tái phát lại sẽ nặng hơn và khó chữa hơn. Tuy nhiên, khi dùng kháng sinh trị bệnh cần lưu ý sử dụng đúng và đủ liều, đồng thời cần điều trị theo phác đồ để tránh tình trạng vi khuẩn không được tiêu diệt hết, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tái phát. Khi đó, người bệnh sẽ phải sử dụng kháng sinh liều cao hơn để diệt khuẩn, gây mệt mỏi cho cơ thể.

Ngoài ra, lưu ý với những người bị viêm đường tiết niệu do thấp nhiệt (nóng trong) thì không nên điều trị bằng kháng sinh vì bản thân người bệnh không bị nhiễm khuẩn, nếu dùng kháng sinh có thể dẫn tới bệnh ngày càng nặng hơn.

    Điều trị bằng đông y

Trong đông y, Kim Ngân Hoa và Kim Tiền Thảo là hai loại thảo dược được sử dụng kết hợp để điều trị viêm đường tiết niệu an toàn và cho hiệu quả cao với cơ chế "thông, xả". Theo đó, Kim Ngân Hoa được ví như kháng sinh tự nhiên, giúp diệt khuẩn cực mạnh, đặc biệt là vi khuẩn E.Coli. Đồng thời Kim Tiền Thảo có tác dụng thanh nhiệt, lợi niệu, từ đó giúp đào thải vi khuẩn đã chết và vi khuẩn bám trên bề mặt đường niệu ra ngoài. Vì vậy, uống thật nhiều nước kết hợp với hai dược liệu trên sẽ giúp tiểu mạnh nhiều, rửa trôi vi khuẩn, mảng viêm ở bàng quang, đồng thời "xả sạch" vi khuẩn ra khỏi đường niệu một cách dễ dàng, an toàn. Với phương pháp điều trị này, đối với những bệnh nhân bị viêm đường tiết niệu do thấp nhiệt (nóng trong) cũng cho hiệu quả cao.
 Theo : https://vi.wikipedia.org/

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Các bệnh nhiễm khuẩn da
Chốc lở: Do điều kiện vệ sinh kém, ăn uống thiếu chất, lao động dọn dẹp vệ sinh sau lũ dễ bị tổn thương da, tạo điều kiện cho vi khuẩn tấn công. Thương tổn là những mụn nước, mụn mủ trên da, tập trung ở vùng hở, tay chân. Khi dập vỡ tạo vết chợt loét nông, trên có vảy màu vàng hoặc màu nâu bẩn, xung quanh có viền vảy hoặc quầng đỏ. Khi bị cần phải lau rửa bằng cồn sát khuẩn hoặc betadin. Bôi thuốc sát khuẩn, xanh methylen, castellani. Khi thương tổn đã khô chuyển sang bôi thuốc mỡ kháng sinh như tetraxyclin, foban, bocidate, fucidin. Uống thuốc kháng sinh để bệnh nhanh khỏi và tránh những biến chứng nguy hiểm như viêm cầu thận.
Viêm nang lông: Do thiếu nước sạch, tắm gội vi khuẩn phát triển ở những nang lông như đầu, lông nách, lông sinh dục, râu, lông mày tạo thành những mụn mủ nhỏ ở nang lông rất ngứa, gãi nhiều chảy nước, dịch, ướt tóc, gọi là viêm nang lông chàm hóa rất khó chữa. Khi bị bệnh cũng phải sát khuẩn bằng cồn 70 độ, betadin, bôi mỡ kháng sinh và uống kháng sinh kháng tụ cầu như oxaxylin, bristopen, cloxylan, hạn chế gãi, chải đầu nhẹ nhàng, không làm tổn thương da đầu.
Mùa mưa lũ đề phòng các bệnh về da
Khám bệnh ngoài da cho bệnh nhân.
Bệnh viêm kẽ do vi khuẩn (Erythrasma):
hay gặp ở người béo phì, vị trí: hai bẹn, nách, cổ và nếp lằn vú ở phụ nữ. Cũng do thiếu nước sạch vệ sinh, mồ hôi ứ đọng, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, thương tổn là những đám da màu đỏ, bờ rõ, có vảy mỏng, hầu như không ngứa, trừ phi bị ở bẹn có cảm giác châm chích khó chịu. Căn nguyên do loại vi khuẩn có tên gọi Corynebacterium minutissimum. Chẩn đoán phân biệt với nấm da bằng cách chiếu đèn huỳnh quang thấy xuất hiện màu đỏ san hô, phân biệt với màu vàng huỳnh quang của nấm. Điều trị bằng bôi dung dịch eryfluid và uống erythromycin 250mg 4 lần 1 ngày.
Bệnh tiêu sừng lõm lòng bàn chân: (pitted keratolysis): còn gọi là bàn chân rỗ, bàn chân hà. Tổn thương là những vết lõm đường kính từ 1-3mm tập trung thành đám ở lòng bàn chân hay thấy ở gót trước và gót sau không đau không ngứa. Căn nguyên do vi khuẩn có tên gọi Micrococcus Sedentarius. Chẩn đoán không khó, chỉ cần dựa vào hình ảnh bàn chân rỗ. Điều trị ngâm rửa nước muối sau đó bôi mỡ kháng sinh erythromycin hoặc clindamycin và mỡ whitfeld xen kẽ, bệnh sẽ khỏi hoàn toàn.
Bệnh da do ký sinh trùng
Bệnh do ấu trùng xâm nhập vào da: Còn gọi là ấu trùng di trú trên da, bệnh ít thấy ở nước ta nhưng cũng không có nghĩa là không có mà do khả năng phát hiện bệnh còn hạn chế. Do trứng của giun sán tồn tại trong đất cát nở thành ấu trùng và xâm nhập vào da người, di trú trên da với tốc độ vài centimet một ngày. Chúng di chuyển ngay dưới lớp sừng tạo thành đường ngoằn ngoèo hơi nổi cao, rộng khoảng 2-3mm. Số lượng tổn thương phụ thuộc vào số lượng ấu trùng xâm nhập. Vị trí hay gặp: cẳng chân, mông, quanh hậu môn, tay. Triệu chứng cơ năng rất ngứa, ấu trùng tồn tại trên da trung bình từ 2-8 tuần. Hiếm khi trên 2 năm. Phòng bệnh: tránh tiếp xúc trực tiếp với đất cát chứa phân. Điều trị tại chỗ: bôi mỡ kháng ký sinh trùng albendazole. Uống thiabendazole 50mg/1kg cân nặng trong ngày, từ 2-5 ngày.
Ghẻ: Trong điều kiện vệ sinh kém, ghẻ cũng sinh sôi nảy nở và lây truyền rất nhanh. Do tiếp xúc trực tiếp giữa người bị ghẻ với người lành. Căn nguyên do ký sinh trùng có tên gọi Sarcoptes Scabies xâm nhập vào da. Thương tổn là những mụn nước, rãnh ghẻ. Vị trí hay gặp: kẽ các ngón tay, nếp lằn chỉ cổ tay, cạp quần, vùng bụng, đùi non, mông bẹn, sinh dục, nếp lằn vú, nách. Hiếm khi thấy ghẻ ở 1/3 trên lưng, mặt. Triệu chứng cơ năng: rất ngứa. Nếu không được phát hiện chữa kịp thời, ghẻ sẽ có biến chứng nhiễm trùng thành những mụn mủ eczema hóa rất khó chữa trị và lây lan ra cộng đồng rất nhanh. Điều trị: vệ sinh cá nhân và bôi thuốc chữa ghẻ, bôi một trong những loại thuốc sau: DEP, eurax, ascabiol. Điều trị cho cả nhà, những người có biểu hiện ngứa ghẻ. Tẩy uế quần áo ga gối bằng cách luộc hoặc phơi 3-4 nắng.
Mùa mưa lũ đề phòng các bệnh về da
Ghẻ.
Nước ăn chân
Thực chất là bị nhiễm nấm Candida và Blastomycet. Do chân tay ngâm trong nước nhiều, tế bào sừng bị chết và môi trường ẩm ướt làm cho nấm xâm nhập và phát triển. Thương tổn hay gặp ở các kẽ ngón chân 4, 5, kẽ ngón tay 3, 4. Lúc đầu là những đám da chết mục màu trắng, ngứa nhiều, gãi lột lớp da chết để lại nền da đỏ hồng ẩm ướt, đau rát, ngứa vẫn tiếp tục làm bệnh nhân gãi và rất đau. Nếu không được điều trị, vết chợt loét sâu và lan rộng, nhiễm trùng sưng đau, đi lại khó khăn. Bệnh cũng hay gặp ở người làm nghề quét dọn, công nhân vệ sinh, người nội trợ, giúp việc, thường xuyên phải tiếp xúc với nước, người có bệnh đái tháo đường cũng thường bị nhiễm loại nấm trên. Khi bị bệnh cần hạn chế lội nước, lau chân khô trước khi đi giày dép và điều quan trọng là phải dùng thuốc chống nấm như: castellani, calcream, nizoral, dezor; rửa chân tay bằng xà phòng diệt nấm SAStid hoặc nước quả chanh để tránh tái nhiễm. 
 Theo : http://suckhoedoisong.vn/

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Chế độ ăn uống có lợi cho bệnh của phụ nữ

Chế độ ăn uống không chỉ thơm ngon mà quan trọng hơn là xem nó có thể cung cấp cho cơ thể bạn những gì để mang lại dinh dưỡng. 11 loại thực phẩm sau đây không chỉ ngon mà trong một mức độ nhất định giúp người phụ nữ điều hòa cơ thể, nhờ đó ngăn cản sự xuất hiện của bệnh phụ khoa
Thiếu máu: Thực phẩm chứa sắt cao

Chữa bệnh phụ khoa bằng phương pháp dân gian

 
Mất máu định kỳ, sinh con và các lý do khác khiến cho khoảng 30% phụ nữ bị thiếu máu nhẹ. Nếu không phát hiện, bổ sung, điều trị sẽ dễ dàng dẫn đến thiếu máu mãn tính, giảm chức năng buồng trứng và ảnh hưởng tới sức khỏe của phụ nữ.

Gan, thịt nạc, rau bina và các thực phẩm khác không chỉ chứa lượng sắt cao mà cơ thể lại dễ dàng hấp thụ. Các chuyên gia y tế còn nhắc nhở phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt nên hạn chế trà và cà phê càng nhiều càng tốt để tránh một trong những chất ức chế hấp thu sắt.
Khó chịu trong kỳ kinh nguyệt: Uống sữa nóng với mật ong


Đau bụng, yếu thắt lưng, cơ thể mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ và dễ bị kích thích tình cảm và các triệu chứng khác... mang lại sự khó chịu cho phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt.

Các chuyên gia Sản phụ khoa gần đây đã phát hiện ra rằng phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, cứ mỗi đêm trước khi đi ngủ uống một cốc sữa nóng và mật ong có tác dụng làm giảm đau hoặc loại bỏ sự khó chịu trong kỳ kinh nguyệt hiệu quả.

Bởi vì kali trong sữa có thể làm dịu cảm xúc, giảm đau, ngăn ngừa nhiễm trùng và làm giảm vai trò của máu; magiê có trong mật ong có thể bình ổn hệ thống thần kinh trung ương để giúp loại bỏ căng thẳng trong kỳ kinh nguyệt của phụ nữ.
Đau bụng kinh: Ăn chuối

Chuối rất giàu vitamin B6, mà vitamin B6 lại có vai trò trong ổn định thần kinh. Không chỉ ổn định sự lo lắng của phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mà còn giúp cải thiện giấc ngủ, giảm đau bụng đáng kể.
Đau nửa đầu: Ăn thực phẩm magiê thực phẩm
 

Đau nửa đầu hay xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Nghiên cứu cho thấy một số bệnh nhân đau nửa đầu có lượng magiê trong máu thấp. Chú ý đến các loại thực phẩm giàu magiê như hạt kê, kiều mạch, đậu, chuối, các loại hạt và hải sản trong chế độ ăn uống có thể làm giảm sự khởi đầu của chứng đau nửa đầu .

Trầm cảm: ăn cá
Do thay đổi hormone, phụ nữ có nhiều nguy cơ bị trầm cảm hơn nam giới. Nghiên cứu cho thấy thường xuyên ăn cá hồi, cá mòi rất giàu Omega-3 giúp phụ nữ giảm trầm cảm và giảm tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm. Bởi vì những loại cá này giàu axit béo Omega-3 có tác dụng chống trầm cảm.
Estrogen giảm: Ăn đậu nành


Estrogen là hormone giới tính quan trọng trong cơ thể nữ giới. Khi nó thấp hơn mức bình thường trong máu, nó là nguyên nhân chức năng sinh sản và chức năng tình dục của phụ nữ bị ảnh hưởng, đồng thời cũng khiến cho trái tim bị mất đi sự bảo hộ của chúng.

Isoflavones có trong đậu nành là chất có thể bù đắp cho sự thiếu hụt estrogen trong cơ thể. Uống 500 ml sữa mỗi ngày hoặc ăn 100 gram sản phẩm của đậu nành như đậu phụ, Yuba, vv, có thể điều tiết chức năng nội tiết, thúc đẩy mức độ estrogen bình thường.
Viêm âm đạo do nấm: Ăn tỏi nhiều hơn


Ăn tỏi thường xuyên sẽ giúp những phụ nữ bị viêm âm đạo chống đỡ tốt với bệnh viêm âm đạo do nấm và mau chóng phục hồi hơn.

Bởi vì tỏi chứa nhiều allicin và các chất khác, đó là các chất diệt khuẩn lưu huỳnh tự nhiên, có tác dụng diệt khuẩn mạnh, ức chế Candida albicans trong âm đạo tăng trưởng quá mức và sinh sôi.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Vitamin nhóm B rất cần thiết đối với cơ thể. Đây là hợp chất hòa tan, không lưu lại trong cơ thể lâu nên cần phải bổ sung thường xuyên qua những thực phẩm dùng hàng ngày. Vitamin nhóm B bao gồm vitamin B1, vitamin B2, niacin, folate, vitamin B6, B12, biotin và pantothenie acid.

Vitamin B1 (thiamin)
B1 giúp cơ thể chuyển hóa carbonhydrates, rượu, mỡ khi ăn vào thành năng lượng, có nhiều trong rau xanh hoa quả, thịt động vật, sữa, trứng, thực phẩm dạng hạt... Đây là loại vitamin hòa tan nên rất dễ bị tổn thất khi chế biến quá kỹ, nhất là trong trường hợp bổ sung thêm bicarbonate soda vào nước sẽ làm trôi nhanh nguồn dưỡng chất này.
Khẩu phần vitamin B1 khuyến cáo nên dùng đối với người lớn là 0,4 mg/ 1.000kcal. Thiếu hụt vitamin B1 có thể làm cho cơ thể mắc phải bệnh tê phù, ngược lại nếu dùng dài kỳ ở liều 3g B1/ngày có thể để lại phản ứng phụ nguy hiểm.

Vitamin B2 (riboflavin)
giúp thực phẩm khi ăn vào biến thành năng lượng, ngoài ra nó còn có nhiệm vụ tạo ra một số enzyme quan trọng. Vitamin B2 có nhiều trong sữa, bơ, trứng, ngũ cốc, thịt, sản phẩm thịt.... và rất dễ bị khử bởi ánh sáng tự nhiên, vì vậy thực phẩm khi mua về nên dùng ngay, tránh phơi ra ánh nắng mặt trời, kể cả sữa.
Hàng ngày cơ thể cần khoảng 1,1mg Vitamin B2 (đối với phụ nữ) và 1,3mg (đối với nam). Nếu thiếu hụt vitamin B2 dễ mắc bệnh răng miệng. Vitamin B2 là loại hợp chất không hòa tan nên rất ít khi để lại phản ứng phụ gây ngộ độc
Vitamin B3 (niacin)
Niacin là dưỡng chất rất cần cho cơ thể để hình thành các loại enzyme quan trọng và chuyển hóa năng lượng từ nguồn thức ăn đầu vào. Vitamin B3 có nhiều trong các loại thực phẩm như thịt, sản phẩm thịt, bánh mì, ngũ cốc tăng cường, khoai, sữa, cá,... Liều dùng khuyến cáo 6,6 mg/1.000kcal cho mọi lứa tuổi, riêng phụ nữ cho con bú nên bổ sung thêm 2,3 mg/ngày.
Thiếu hụt vitamin B3 có thể gây bệnh pellagra, làm xạm đen hoặc tróc vảy da khi phơi ra ngoài nắng. Nếu dùng liều cao từ 3-6g/ngày có thể gây tổn thương gan, gây cháy nắng mặt và da.
Vitamin B6 (pyridoxine)
Vitamin B6 rất cần cho quá trình chuyển hóa protein trong cơ thể và là hợp chất quan trọng cho việc tạo haemoglobin (huyết sắc tố, chất tạo nên màu đỏ của tế bào hồng cầu), máu cho cơ thể. Vitamin B6 có nhiều trong thực phẩm truyền thống như ngũ cốc, hoa quả, rau xanh dạng lá và gan động vật. Liều dùng khuyến cáo tùy thuộc vào lượng protein tiêu thụ của mỗi người, trung bình từ 15mg trên mỗi gam protein. Nếu lạm dụng, dùng trên 50 mg/ngày có thể gây ảnh hưởng đến chức năng hệ thần kinh. Tại Mỹ người ta khuyến cáo không được dùng quá 10mg/ngày, trừ khi có đơn của bác sĩ.
Folate (folic acid)
Folate có nhiệm vụ tạo tế bào máu và giúp tế bào máu phát triển, giúp phụ nữ mang thai giảm thiểu bệnh khuyết tật ống thần kinh, để trẻ phát triển cột sống và não hoàn hảo. Folate có nhiều trong các loại thực phẩm chúng ta dùng hàng ngày, kể cả trong rau xanh, khoai tây, ngũ cốc tăng cường, bánh mì, thực phẩm dạng hạt, đậu đỗ,... Folate rất dễ bị tổn thất khi nấu nướng trong nước. Liều dùng khuyến cáo 200µg/ngày đối với người lớn. Phụ nữ mang thai nên bổ sung 60-100µg/ngày và có thể dùng folate cho đến tuần mang thai thứ 12, riêng những người đang có kế hoạch sinh con thì bổ sung khoảng 400µg/ngày để làm giảm khuyết tật ống thần kinh phôi cho trẻ em tương lai.
Thiếu hụt folate có thể gây thiếu máu, nhất là những người có khẩu phần ăn nghèo dưỡng chất, hoặc gây bệnh đường ruột. Sử dụng liều cao có thể ảnh hưởng việc hấp thụ kẽm của cơ thể. Gan là thực phẩm rất giàu folate nhưng phụ nữ mang thai không nên ăn vì gan có hàm lượng vitamin A cao, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi.
Vitamin B12
Vitamin B12 có nhiệm vụ tăng cường sức khỏe cho tế bào máu và tế bào thần kinh. Đây là dưỡng chất có trong sản phẩm động vật và trong men, như trong gan, trứng, sữa, thịt, cá, ngũ cốc. Liều khuyến cáo là 1,50µg/ ngày cho người lớn, riêng nhóm phụ nữ đang nuôi con cần thêm 0,5µg/ngày. Thiếu hụt vitamin B12 có thể gây bệnh thiếu máu, ảnh hưởng đến quá trình phát triển hệ thần kinh. Nếu dùng đến ngưỡng 3mg/ngày ở người lớn cũng không gây độc cho cơ thể.
Biotin
Biotin là dưỡng chất rất cần cho cơ thể để làm tan mỡ, có nhiều trong trứng, sữa, sản phẩm sữa, ngũ cốc, cá, rau củ quả. Cơ thể cần một lượng nhỏ biotin và thường do khuẩn trong ruột sản xuất ra nên không cần phải bổ sung thêm.
Pantothenic acid
Đây là loại axít rất cần để giúp cơ thể sản xuất năng lượng từ thức ăn đầu vào. Có nhiều trong thực phẩm như thịt, ngũ cốc, đậu đỗ và rất ít khi phát hiện thấy cơ thể thiếu hụt nguồn dưỡng chất này.
"Chuối là thực phẩm có chứa carbohydrates, Vitamin B, và 3 loại đường tự nhiên cộng thêm chất xơ. Rất tốt để bồi bổ năng lượng."

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

1. Bữa sáng tốt nhất là trứng và sữa
Nếu bữa sáng thiếu những món chứa tinh bột (cháo hoặc bột ăn dặm), bé sẽ kém phát triển chiều cao. Trong bữa sáng, cha mẹ cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, tránh cho bé uống sữa như uống nước lọc. Nên cho bé uống một lượng nhỏ nước lọc tráng miệng sau khi bé đã ăn sáng.

2. Thức ăn nguồn gốc đậu nành có thể thay cho rau xanh
Thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành có nhiều vitamin và chất dinh dưỡng tương tự một số loại rau xanh nhưng nó không thể thay thế cho rau xanh. Rau xanh là thực phẩm không thể thay thế, dù đó là hoa quả tươi.
3. Bé bị táo bón, cần cho ăn chuối
Chuối không phải lúc nào cũng giúp đường ruột hoạt động hiệu quả với bé bị “táo”. Quan trọng là cần tạo cho bé thói quen ăn uống lành mạnh, ăn chuối thường xuyên để phòng tránh táo bón.
4. Đồ ăn vặt luôn gây hại cho bé
Bản thân đồ ăn vặt không xấu vì đồ ăn vặt cung cấp năng lượng cho bé (bên cạnh bữa ăn chính). Nên đổi tên đồ ăn vặt thành bữa ăn phụ dinh dưỡng dành cho bé. Bạn cũng cần quan tâm đến những món trong bữa phụ giống như với bữa chính.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Trứng muối, gan động vật hay thậm chí cả sữa chua, chocolate... là những loại thực phẩm một số bé rất thích ăn, nhưng ăn nhiều có thật sự tốt không?

1. Trứng muối và sự phát triển của trẻ
Trứng muối có vị rất lạ và đặc biệt, vì thế nhiều bé rất thích ăn. Nhiều bà mẹ cho rằng trứng muối được chế biến từ trứng gà, vừa có dinh dưỡng vừa có mùi vị đặc biệt, vì thế thường xuyên cho trẻ ăn trong bữa ăn hàng ngày của trẻ. Nhưng trứng muối lại không tốt nếu bé ăn quá nhiều, có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của bé.
Nguyên nhân là trong quá trình chế biến trứng muối phải sử dụng một lượng chì nhất định, trong khi chì có ảnh hưởng không tốt đến hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và quá trình tạo máu. Đặc biệt, bé còn rất mẫn cảm với chì, tỷ lệ hấp thu chì cao hơn rất nhiều so với người lớn. Não bộ và hệ thần kinh của bé còn chưa phát triển một cách đầy đủ, nên càng dễ bị tổn thương, do đó gây ảnh hưởng lớn đến trí lực của bé.
2. Gan động vật và độc tố tiềm ẩn
Gan động vật có hàm lượng dinh dưỡng phong phú, có thể bổ sung sắt và vitamin A, vì thế nhiều bà mẹ hay cho trẻ ăn gan động vật trong bữa ăn của bé. Nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng, tuy gan có hàm lượng dinh dưỡng phong phú, nhưng  cũng chính là "bộ máy giải độc" lớn nhất trong cơ thể, vì thế hàm lượng độc tố cũng như lượng khí thể hóa học trong gan cũng rất cao. Do đó bạn chỉ nên cho bé ăn một lượng gan vừa đủ, nếu ăn quá nhiều sẽ không có lợi cho sức khỏe bé. Ngoài ra, lượng vitamin A có trong gan động vật nếu tích tụ quá nhiều trong cơ thể cũng có thể dẫn đễn một số bệnh khác.
3. Sữa chua và chứng đau dạ dày
Sữa chua có vị chua chua ngọt ngọt, vì thế trẻ thường rất thích. Tuy nhiên ăn sữa chua quá nhiều có thể dẫn đến đau dạ dày, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa bình thường trong cơ thể. Hơn nữa không nên cho bé ăn sữa chua quá sớm (dưới 1 tuổi) vì đường ruột của bé dưới 1 tuổi còn rất non nớt, nếu bé ăn có thể gặp vấn đề về đường ruột.
4. Rau chân vịt và sự phát triển của xương
Các bà mẹ thường cho rằng rau chân vịt có hàm lượng sắt lớn, là loại rau xanh tốt nhất để bổ sung máu cho bé, vì thế thường cho bé ăn hàng ngày. Các nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra rằng, thực tế lượng sắt có trong rau chân vịt không nhiều đến vậy, thậm chí còn thấp hơn lượng sắt có trong rau cải xanh, cải trắng và cần tây.
Hơn nữa, lượng axit khá cao trong rau chân vịt khi được hấp thụ vào cơ thể, sẽ hòa tan canxi trong dạ dày, vì thế nếu ăn quá nhiều rau chân vịt, bé sẽ rất dễ bị thiếu canxi, thậm chí còn ảnh hưởng đến sự hấp thu kẽm, không có lợi cho sự phát triển xương và răng của trẻ.
5. Thực phẩm có tính axit và chứng cô độc
Thực phẩm có tính axit không phải là chỉ là thực phẩm có vị chua mà còn là các loại thịt, trứng và đường. Những thực phẩm này thường được cho là rất bổ dưỡng nhưng khi ăn nhiều, qua quá trình trao đổi chất trong cơ thể sẽ làm cho huyết mạch cũng có tính axit.
Ăn quá nhiều thực phẩm có tính axit sẽ hình thành nên thể chất mang tính axit, khiến các vi chất tham gia vào sự phát triển của não bộ và duy trì chức năng sinh lý như canxi, kali, magie tiêu hao, ảnh hưởng tới tâm trạng, làm cho bé mắc chứng bệnh cô độc.
Giải pháp: Điều chỉnh cơ cấu 3 bữa ăn, giảm tỉ lệ thức ăn có protein, chất béo, chất đường; tăng thêm thực phẩm có tính kiềm như rau xanh, hoa quả, làm cho độ kiềm axit trong máu trở lại cân bằng, giúp giải thoát bé khỏi chứng cô độc.
6. Các loại bột và bệnh cận thị
Rất nhiều ông bố bà mẹ thường xuyên cho bé ăn bột gạo, bột mỳ. Chuyên gia dinh dưỡng cho rằng ăn chất bột nghiền quá nhỏ trong một thời gian dài sẽ rất tới thiếu hụt sinh tố B, ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thần kinh. Ngoài ra, do mất quá nhiều Cr (Chromium) mà ảnh hưởng đối với phát triển thị lực, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra cận thị.
Cr là một loại hormone quan trọng trong cơ thể, nếu không đủ sẽ làm tính linh hoạt của insulin giảm đi, khả năng điều tiết đường trong máu giảm, gây ra bệnh cận thị.
Giải pháp: Mỗi ngày cơ thể cần 50-200mg nguyên tố Cr từ thức ăn trong khi các thực phẩm tinh chế như bột gạo, bột mỳ đã bị hao hụt tới 80% Cr. Vì vậy, nên cho bé ăn thức ăn nấu từ gạo nguyên hạt (nấu chín rồi xay nhỏ) để đảm bảo đủ chất.
7. Cafe, trà và chứng thấp bé
Trong cafe, trà có chứa rất nhiều cafein mà cafein lại gây ra trở ngại cho phát triển xương cốt của bé. Những đứa bé thường xuyên uống cafe, ăn kẹo bánh làm từ cafe thì sẽ có nguy cơ bị "lùn". Các bậc phụ huynh không nên xem nhẹ chuyện này.
Giải pháp: Thường xuyên cho bé uống nước lọc hoặc nước hoa quả tự nhiên, nên ít tiếp xúc hoặc không tiếp xúc với cafe.
8. Chocolate và chứng đái dầm
Chocolate được chứng minh là có rất nhiều chức năng bảo vệ sức khoẻ (bảo vệ tim, phòng chống ung thư, giảm béo, tạo hưng phấn) vì thế được nhiều chuyên gia dinh dưỡng gợi ý nên dùng. Chính vì vậy, chủ đề chocolate dinh dưỡng dần dần "nóng" lên và trở thành một loại thực phẩm thời thượng. Tuy nhiên, bé nên hạn chế sử dụng chocolate, nếu không sẽ dễ gây ra chứng đái dầm.
Cơ thể bé còn non nên việc ăn nhiều chocolate sẽ làm cho bàng bàng quang phình to, cơ bàng quang trở nên thô ráp, xuất hiện hiện tượng co thắt không chủ động. Đồng thời chocolate                  
cũng làm bé ngủ sâu khiến khi trong bọng đái đầy nước tiểu thì không thể tỉnh dậy kịp, lâu dần thành bệnh đái dầm.
Giải pháp: Nên ít cho bé ăn và uống chocolate, đặc biệt là trước lúc đi ngủ.
9. Cá khô và răng đốm vàng
Cá khô được chế biến từ cá biển, không chỉ giàu dinh dưỡng (protein, canxi, phốt pho) mà còn rất thơm ngon. Tuy nhiên, theo thực nghiệm, hàm lượng flour trong cá cao gấp 2.400 lần so với thịt bò, thịt dê, thịt lợn và gấp 4.800 lần so với rau xanh, hoa quả.
Trúng độc flour mãn tính trước tiên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển răng của bé, làm cho răng không bóng, mặt răng xuất hiện những nốt đen, hoa văn, răng chuyển màu vàng, gây nên bệnh răng đen vàng. Một khi đã hình thành nên răng đốm vàng flour thì không có cách nào để "khôi phục".
Giải pháp: Có thể làm đồ ăn vặt ở giữa hai bữa ăn, tuyệt đối không nên làm thức ăn "kháng chiến trường kỳ" cho bé.
10. Đồ lạnh và bệnh lồng ruột
Mỗi khi hè đến, tiết trời nóng bức không ít bé nằng nặc đòi uống đồ lạnh nhưng đường ruột của bé rất mỏng, khả năng cố định lại kém, mỗi khi bị đồ lạnh kích thích, rất dễ gây ra co thắt ở cơ bàng quang đường ruột và đẩy mạnh co bóp, từ đó gây ra bệnh lồng ruột và đường ruột tắc nghẽn, thậm chí gây nguy hại đến tính mạng.
Giải pháp: Nên ít cho bé ăn uống đồ lạnh, đặc biệt là bé dưới 2 tuổi càng cần phải hạn chế, nước có ga tuyệt đối nên tránh, kem cũng chỉ thỉnh thoảng được ăn vài miếng và không nên ăn trước bữa ăn, ăn sau bữa ăn 1 tiếng là thích hợp nhất.
Đồ uống hoặc thức ăn vừa mới lấy từ tủ lạnh ra nên để ở nhiệt độ phòng một lúc mới nên cho bé ăn.
(Theo Dinhduong.com.vn

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Đối với người cao tuổi, việc thiết lập một chế độ dinh dưỡng hợp lý là hết sức cần thiết, không phải hễ ăn nhiều là tốt; bởi vì trong giai đoạn này, các cơ quan chức năng của người cao tuổi đã bắt đầu đi vào quá trình lão hóa.
Người cao tuổi ít hoạt động so với thời trẻ. Mắt nhìn kém, tai nghe kém, mũi ngửi kém, lưỡi không nhạy, ảnh hưởng đến việc ngon miệng. Các cơ quan tiêu hóa hoạt động cũng kém trước. Hàm răng yếu, nhai cắn thức ăn khó khăn. Tuyến nước bọt bị teo, thiếu nước bọt nên nuốt khó. Dạ dày và ruột cũng teo đi. Dịch vị giảm, lượng men tiêu hóa giảm. Hoạt động của gan, thận yếu đi, khả năng lọc còn 60% gây ứ các chất thải ở máu. Ăn khó tiêu. Nhu động của ruột giảm dễ gây táo bón...
Tóm lại, ở người cao tuổi tất cả đều ảnh hưởng đến sự tiêu hóa hấp thu thức ăn, vì thế, người cao tuổi cần có một chế độ ăn uống hợp lý.
Giảm mức ăn so với thời trẻ: ăn giảm cơm

Nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm 30% so với người 25 tuổi. Do đó, tự nhiên người già đều ăn giảm đi. Nhưng có một số người, tuy tuổi đã cao vẫn cảm thấy ngon miệng nên ăn thừa, người quá mập.
Người quá mập, mỡ bọc các cơ quan nội tạng dễ dẫn đến suy tim, suy gan, suy thận. Cho nên, người nhiều tuổi cần chú ý giảm mức ăn so với thời trẻ. Trước đây, mỗi bữa ăn ba, bốn bát cơm, nay chỉ nên ăn hai bát, thậm chí một bát. Chú ý theo dõi cân nặng của mình. Cân nặng của người cao tuổi không nên vượt quá số cm của chiều cao trừ đi 105.
Ví dụ: người có tuổi cao 165cm, cân nặng không nên vượt quá 60kg.
Ăn giảm thịt, giảm đường, giảm muối
Ngoài việc giảm cơm, đối với những gia đình khá giả có mức ăn cao, các cụ cần chú ý tự giảm ăn thịt, giảm món ăn mỡ, giảm đường theo khuyến cáo của tháp dinh dưỡng cân đối. Thịt tính bình quân không vượt quá 1,5kg/người trong một tháng, mỡ dưới 600g, đường dưới 500g. Đối với tất cả mọi người, cần vận động ăn giảm muối. Bắt đầu dưới 300g/người/tháng. Rồi rút dần xuống dưới 200g vì ăn muối nhiều có liên quan đến bệnh cao huyết áp.
Tóm lại, người có tuổi cần ăn giảm cơm, giảm thịt, mỡ, giảm đường, bánh kẹo, nước ngọt và chú ý ăn nhạt hơn.
Ăn thêm đậu, lạc, vừng và cá
Ở người có tuổi, tiêu hóa hấp thụ chất đạm kém nên dễ xảy ra tình trạng thiếu đạm. Trong đậu, lạc, vừng và cá có nhiều đạm, nhiều dầu giúp đề phòng các bệnh về tim mạch. Vì thế, người nhiều tuổi nên ăn nhiều món từ đậu tương như: đậu phụ, sữa đậu nành...
Ở mỗi gia đình nên có một lọ vừng, lạc để có một món ăn chế biến sẵn bổ sung cho bữa ăn hàng ngày. Mỗi tuần ăn 2-3 bữa cá. Nên ăn cá nhỏ, kho nhừ để ăn được cả xương, có thêm can xi đề phòng bệnh xốp xương ở người cao tuổi. Đậu, lạc, vừng, cá vừa có tác dụng phòng chống các bệnh tim mạch và nhất là đậu phụ có tác dụng phòng chống ung thư. Tim mạch và ung thư là hai bệnh chính gây tử vọng ở người cao tuổi.
Ăn nhiều rau tươi, quả chín
Ở người nhiều tuổi, sức co bóp của dạ dày giảm, nhu động ruột giảm, dẫn đến táo bón. Khi táo bón kéo dài, vi sinh vật gây thối rữa phát triển tạo ra nhiều hơi trong ruột gây đầy bụng. Cơ hoành bị đẩy lên gây khó thở và trở ngại cho hoạt động của tim. Cho nên người có tuổi cần chú ý ăn nhiều rau để có chất xơ kích thích nhu động ruột, tránh táo bón.
Các chất xơ trong rau quả còn có tác dụng như cái chổi quét hết cholesterol thừa đẩy ra theo phân giúp cơ thể dễ phòng xơ vữa động mạch. Ăn rau tươi, quả chín cũng góp phần tăng cảm giác no khi ta ăn bớt cơm và điều quan trọng hơn là rau quả cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng hết sức quan trọng đối với người cao tuổi là các vitamin và chất khoáng.
Sử dụng hợp lý thực phẩm dùng cho người cao tuổi
- Gạo: chọn gạo dẻo, không xát quá trắng.
- Khoai, củ: người cao tuổi nên ăn bớt cơm và thay bằng khoai. Chú ý: khoai sọ không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.
- Đậu phụ, sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành vừa bổ, vừa giúp đề phòng các bệnh tim mạch và ung thư.
- Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều acid béo không no. Mỗi gia đình nên có lọ muối vừng lạc nhạt để ăn dần, bổ sung vào bữa ăn hàng ngày.
- Rau: bữa nào cũng cần có món rau, đặc biệt là các loại rau lá xanh có nhiều bêta - caroten kể cả trong các bữa tiệc cũng phải có món rau.
- Quả chín rất quý, cần tạo thói quen dùng quả tráng miệng sau bữa ăn.
-  Thịt, cá: người nhiều tuổi cần ăn giảm thịt, chỉ cần trung bình 1,5kg thịt một tháng. Nên ăn cá nhiều hơn, ba bữa một tuần. Cá nhỏ kho nhừ, ăn cả xương.
- Trứng bổ nhưng không nên lạm dụng. Trung bình 3 quả 1 tuần.
- Sữa bổ dễ tiêu. Đặc biệt, sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện mỗi ngày nên uống một cốc sữa chua.
- Mật ong: có tác dụng tốt trong các bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh; nhưng người có tuổi cần giảm chất ngọt (không quá 20g đường mỗi ngày).
- Mắm: là món ăn ngon được nhiều người ưa thích nhưng đối với người cao tuổi không nên ăn thường xuyên, mỗi lần ăn cũng nên dùng ít vì lượng muối trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.
- Muối: Có liên quan đến bệnh huyết áp cao, tai biến mạch máu não, nên ăn hạn chế. Khi nấu ăn cũng nên giảm lượng muối.
- Dưa: Muối xổi, dưa góp, dưa giá lên men lactic giúp ăn ngon miệng. Canh dưa là món ăn được ưa thích.
- Rượu: Người có tuổi có nhiều nguy cơ bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, cho nên rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người có tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên men như rượu vang, bia trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.
Cách ăn của người cao tuổi
- Ăn uống điều độ: Tránh ăn quá no, đặc biệt buổi tối trước khi đi ngủ và khi có bệnh ở hệ tim mạch. Chú ý những ngày lễ tết thường ăn quá mức bình thường và vui quá chén.
- Chế biến các món ăn hỗn hợp có nhiều gia vị, kích thích ăn ngon miệng, làm thức ăn mềm, nấu nhừ. Chú ý đến món canh. Cần quan tâm đến răng miệng và sức nhai, nuốt của người nhiều tuổi khi chế biến thức ăn vì tuyến nước bọt và hàm răng của người nhiều tuổi hoạt động kém, vấn đề nhai và nuốt thức ăn gặp khó khăn.
- Chú ý đảm bảo nước uống cho người cao tuổi: Cho người cao tuổi uống nước trắng hoặc nước chè. Hạn chế uống nước ngọt. Người cao tuổi hay quên, một số mất cảm giác khát. Cho nên cần xây dựng thành chế độ uống nước của người già và theo dõi việc thực hiện. Ví dụ: sáng uống hai cốc, trưa hai cốc, chiều hai cốc. Tránh uống nhiều nước buổi tối.
- Chú ý các thức ăn nguồn thực vật vì nếu biết cách chọn lựa, chế biến khéo sẽ tạo ra các món ăn ngon, bổ, dễ tiêu, giá rẻ.
- Cần đảm bảo vệ sinh trong chế biến món ăn và giữ gìn vệ sinh ăn uống. Thức ăn, nước uống là nguồn gây bệnh.
Tóm lại, cần đảm bảo cho người cao tuổi được ăn uống thoải mái, tìm được nguồn vui trong bữa ăn hàng ngày. Nguồn vui được tạo ra từ sự chăm sóc, tình cảm của người thân trong gia đình quan tâm đến vấn đề ăn uống, chế biến các món ăn mà người cao tuổi yêu thích. Nguồn vui còn do bản thân người cao tuổi biết cách giữ gìn, ăn uống điều độ.
Hoạt động thể chất (đi bộ đều đặn hàng ngày), hoạt động trí óc, sự cởi mở, quan hệ tốt với mọi người,... đều góp phần giúp cho con người thanh thản, thoải mái, ăn ngon, ngủ sâu, tiêu hóa hấp thu tốt. 
Theo :