Hiển thị các bài đăng có nhãn Mách Nhỏ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mách Nhỏ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Chế độ ăn uống có lợi cho bệnh của phụ nữ

Chế độ ăn uống không chỉ thơm ngon mà quan trọng hơn là xem nó có thể cung cấp cho cơ thể bạn những gì để mang lại dinh dưỡng. 11 loại thực phẩm sau đây không chỉ ngon mà trong một mức độ nhất định giúp người phụ nữ điều hòa cơ thể, nhờ đó ngăn cản sự xuất hiện của bệnh phụ khoa
Thiếu máu: Thực phẩm chứa sắt cao

Chữa bệnh phụ khoa bằng phương pháp dân gian

 
Mất máu định kỳ, sinh con và các lý do khác khiến cho khoảng 30% phụ nữ bị thiếu máu nhẹ. Nếu không phát hiện, bổ sung, điều trị sẽ dễ dàng dẫn đến thiếu máu mãn tính, giảm chức năng buồng trứng và ảnh hưởng tới sức khỏe của phụ nữ.

Gan, thịt nạc, rau bina và các thực phẩm khác không chỉ chứa lượng sắt cao mà cơ thể lại dễ dàng hấp thụ. Các chuyên gia y tế còn nhắc nhở phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt nên hạn chế trà và cà phê càng nhiều càng tốt để tránh một trong những chất ức chế hấp thu sắt.
Khó chịu trong kỳ kinh nguyệt: Uống sữa nóng với mật ong


Đau bụng, yếu thắt lưng, cơ thể mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ và dễ bị kích thích tình cảm và các triệu chứng khác... mang lại sự khó chịu cho phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt.

Các chuyên gia Sản phụ khoa gần đây đã phát hiện ra rằng phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, cứ mỗi đêm trước khi đi ngủ uống một cốc sữa nóng và mật ong có tác dụng làm giảm đau hoặc loại bỏ sự khó chịu trong kỳ kinh nguyệt hiệu quả.

Bởi vì kali trong sữa có thể làm dịu cảm xúc, giảm đau, ngăn ngừa nhiễm trùng và làm giảm vai trò của máu; magiê có trong mật ong có thể bình ổn hệ thống thần kinh trung ương để giúp loại bỏ căng thẳng trong kỳ kinh nguyệt của phụ nữ.
Đau bụng kinh: Ăn chuối

Chuối rất giàu vitamin B6, mà vitamin B6 lại có vai trò trong ổn định thần kinh. Không chỉ ổn định sự lo lắng của phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mà còn giúp cải thiện giấc ngủ, giảm đau bụng đáng kể.
Đau nửa đầu: Ăn thực phẩm magiê thực phẩm
 

Đau nửa đầu hay xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Nghiên cứu cho thấy một số bệnh nhân đau nửa đầu có lượng magiê trong máu thấp. Chú ý đến các loại thực phẩm giàu magiê như hạt kê, kiều mạch, đậu, chuối, các loại hạt và hải sản trong chế độ ăn uống có thể làm giảm sự khởi đầu của chứng đau nửa đầu .

Trầm cảm: ăn cá
Do thay đổi hormone, phụ nữ có nhiều nguy cơ bị trầm cảm hơn nam giới. Nghiên cứu cho thấy thường xuyên ăn cá hồi, cá mòi rất giàu Omega-3 giúp phụ nữ giảm trầm cảm và giảm tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm. Bởi vì những loại cá này giàu axit béo Omega-3 có tác dụng chống trầm cảm.
Estrogen giảm: Ăn đậu nành


Estrogen là hormone giới tính quan trọng trong cơ thể nữ giới. Khi nó thấp hơn mức bình thường trong máu, nó là nguyên nhân chức năng sinh sản và chức năng tình dục của phụ nữ bị ảnh hưởng, đồng thời cũng khiến cho trái tim bị mất đi sự bảo hộ của chúng.

Isoflavones có trong đậu nành là chất có thể bù đắp cho sự thiếu hụt estrogen trong cơ thể. Uống 500 ml sữa mỗi ngày hoặc ăn 100 gram sản phẩm của đậu nành như đậu phụ, Yuba, vv, có thể điều tiết chức năng nội tiết, thúc đẩy mức độ estrogen bình thường.
Viêm âm đạo do nấm: Ăn tỏi nhiều hơn


Ăn tỏi thường xuyên sẽ giúp những phụ nữ bị viêm âm đạo chống đỡ tốt với bệnh viêm âm đạo do nấm và mau chóng phục hồi hơn.

Bởi vì tỏi chứa nhiều allicin và các chất khác, đó là các chất diệt khuẩn lưu huỳnh tự nhiên, có tác dụng diệt khuẩn mạnh, ức chế Candida albicans trong âm đạo tăng trưởng quá mức và sinh sôi.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Vitamin nhóm B rất cần thiết đối với cơ thể. Đây là hợp chất hòa tan, không lưu lại trong cơ thể lâu nên cần phải bổ sung thường xuyên qua những thực phẩm dùng hàng ngày. Vitamin nhóm B bao gồm vitamin B1, vitamin B2, niacin, folate, vitamin B6, B12, biotin và pantothenie acid.

Vitamin B1 (thiamin)
B1 giúp cơ thể chuyển hóa carbonhydrates, rượu, mỡ khi ăn vào thành năng lượng, có nhiều trong rau xanh hoa quả, thịt động vật, sữa, trứng, thực phẩm dạng hạt... Đây là loại vitamin hòa tan nên rất dễ bị tổn thất khi chế biến quá kỹ, nhất là trong trường hợp bổ sung thêm bicarbonate soda vào nước sẽ làm trôi nhanh nguồn dưỡng chất này.
Khẩu phần vitamin B1 khuyến cáo nên dùng đối với người lớn là 0,4 mg/ 1.000kcal. Thiếu hụt vitamin B1 có thể làm cho cơ thể mắc phải bệnh tê phù, ngược lại nếu dùng dài kỳ ở liều 3g B1/ngày có thể để lại phản ứng phụ nguy hiểm.

Vitamin B2 (riboflavin)
giúp thực phẩm khi ăn vào biến thành năng lượng, ngoài ra nó còn có nhiệm vụ tạo ra một số enzyme quan trọng. Vitamin B2 có nhiều trong sữa, bơ, trứng, ngũ cốc, thịt, sản phẩm thịt.... và rất dễ bị khử bởi ánh sáng tự nhiên, vì vậy thực phẩm khi mua về nên dùng ngay, tránh phơi ra ánh nắng mặt trời, kể cả sữa.
Hàng ngày cơ thể cần khoảng 1,1mg Vitamin B2 (đối với phụ nữ) và 1,3mg (đối với nam). Nếu thiếu hụt vitamin B2 dễ mắc bệnh răng miệng. Vitamin B2 là loại hợp chất không hòa tan nên rất ít khi để lại phản ứng phụ gây ngộ độc
Vitamin B3 (niacin)
Niacin là dưỡng chất rất cần cho cơ thể để hình thành các loại enzyme quan trọng và chuyển hóa năng lượng từ nguồn thức ăn đầu vào. Vitamin B3 có nhiều trong các loại thực phẩm như thịt, sản phẩm thịt, bánh mì, ngũ cốc tăng cường, khoai, sữa, cá,... Liều dùng khuyến cáo 6,6 mg/1.000kcal cho mọi lứa tuổi, riêng phụ nữ cho con bú nên bổ sung thêm 2,3 mg/ngày.
Thiếu hụt vitamin B3 có thể gây bệnh pellagra, làm xạm đen hoặc tróc vảy da khi phơi ra ngoài nắng. Nếu dùng liều cao từ 3-6g/ngày có thể gây tổn thương gan, gây cháy nắng mặt và da.
Vitamin B6 (pyridoxine)
Vitamin B6 rất cần cho quá trình chuyển hóa protein trong cơ thể và là hợp chất quan trọng cho việc tạo haemoglobin (huyết sắc tố, chất tạo nên màu đỏ của tế bào hồng cầu), máu cho cơ thể. Vitamin B6 có nhiều trong thực phẩm truyền thống như ngũ cốc, hoa quả, rau xanh dạng lá và gan động vật. Liều dùng khuyến cáo tùy thuộc vào lượng protein tiêu thụ của mỗi người, trung bình từ 15mg trên mỗi gam protein. Nếu lạm dụng, dùng trên 50 mg/ngày có thể gây ảnh hưởng đến chức năng hệ thần kinh. Tại Mỹ người ta khuyến cáo không được dùng quá 10mg/ngày, trừ khi có đơn của bác sĩ.
Folate (folic acid)
Folate có nhiệm vụ tạo tế bào máu và giúp tế bào máu phát triển, giúp phụ nữ mang thai giảm thiểu bệnh khuyết tật ống thần kinh, để trẻ phát triển cột sống và não hoàn hảo. Folate có nhiều trong các loại thực phẩm chúng ta dùng hàng ngày, kể cả trong rau xanh, khoai tây, ngũ cốc tăng cường, bánh mì, thực phẩm dạng hạt, đậu đỗ,... Folate rất dễ bị tổn thất khi nấu nướng trong nước. Liều dùng khuyến cáo 200µg/ngày đối với người lớn. Phụ nữ mang thai nên bổ sung 60-100µg/ngày và có thể dùng folate cho đến tuần mang thai thứ 12, riêng những người đang có kế hoạch sinh con thì bổ sung khoảng 400µg/ngày để làm giảm khuyết tật ống thần kinh phôi cho trẻ em tương lai.
Thiếu hụt folate có thể gây thiếu máu, nhất là những người có khẩu phần ăn nghèo dưỡng chất, hoặc gây bệnh đường ruột. Sử dụng liều cao có thể ảnh hưởng việc hấp thụ kẽm của cơ thể. Gan là thực phẩm rất giàu folate nhưng phụ nữ mang thai không nên ăn vì gan có hàm lượng vitamin A cao, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi.
Vitamin B12
Vitamin B12 có nhiệm vụ tăng cường sức khỏe cho tế bào máu và tế bào thần kinh. Đây là dưỡng chất có trong sản phẩm động vật và trong men, như trong gan, trứng, sữa, thịt, cá, ngũ cốc. Liều khuyến cáo là 1,50µg/ ngày cho người lớn, riêng nhóm phụ nữ đang nuôi con cần thêm 0,5µg/ngày. Thiếu hụt vitamin B12 có thể gây bệnh thiếu máu, ảnh hưởng đến quá trình phát triển hệ thần kinh. Nếu dùng đến ngưỡng 3mg/ngày ở người lớn cũng không gây độc cho cơ thể.
Biotin
Biotin là dưỡng chất rất cần cho cơ thể để làm tan mỡ, có nhiều trong trứng, sữa, sản phẩm sữa, ngũ cốc, cá, rau củ quả. Cơ thể cần một lượng nhỏ biotin và thường do khuẩn trong ruột sản xuất ra nên không cần phải bổ sung thêm.
Pantothenic acid
Đây là loại axít rất cần để giúp cơ thể sản xuất năng lượng từ thức ăn đầu vào. Có nhiều trong thực phẩm như thịt, ngũ cốc, đậu đỗ và rất ít khi phát hiện thấy cơ thể thiếu hụt nguồn dưỡng chất này.
"Chuối là thực phẩm có chứa carbohydrates, Vitamin B, và 3 loại đường tự nhiên cộng thêm chất xơ. Rất tốt để bồi bổ năng lượng."

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

1. Bữa sáng tốt nhất là trứng và sữa
Nếu bữa sáng thiếu những món chứa tinh bột (cháo hoặc bột ăn dặm), bé sẽ kém phát triển chiều cao. Trong bữa sáng, cha mẹ cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, tránh cho bé uống sữa như uống nước lọc. Nên cho bé uống một lượng nhỏ nước lọc tráng miệng sau khi bé đã ăn sáng.

2. Thức ăn nguồn gốc đậu nành có thể thay cho rau xanh
Thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành có nhiều vitamin và chất dinh dưỡng tương tự một số loại rau xanh nhưng nó không thể thay thế cho rau xanh. Rau xanh là thực phẩm không thể thay thế, dù đó là hoa quả tươi.
3. Bé bị táo bón, cần cho ăn chuối
Chuối không phải lúc nào cũng giúp đường ruột hoạt động hiệu quả với bé bị “táo”. Quan trọng là cần tạo cho bé thói quen ăn uống lành mạnh, ăn chuối thường xuyên để phòng tránh táo bón.
4. Đồ ăn vặt luôn gây hại cho bé
Bản thân đồ ăn vặt không xấu vì đồ ăn vặt cung cấp năng lượng cho bé (bên cạnh bữa ăn chính). Nên đổi tên đồ ăn vặt thành bữa ăn phụ dinh dưỡng dành cho bé. Bạn cũng cần quan tâm đến những món trong bữa phụ giống như với bữa chính.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Trứng muối, gan động vật hay thậm chí cả sữa chua, chocolate... là những loại thực phẩm một số bé rất thích ăn, nhưng ăn nhiều có thật sự tốt không?

1. Trứng muối và sự phát triển của trẻ
Trứng muối có vị rất lạ và đặc biệt, vì thế nhiều bé rất thích ăn. Nhiều bà mẹ cho rằng trứng muối được chế biến từ trứng gà, vừa có dinh dưỡng vừa có mùi vị đặc biệt, vì thế thường xuyên cho trẻ ăn trong bữa ăn hàng ngày của trẻ. Nhưng trứng muối lại không tốt nếu bé ăn quá nhiều, có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của bé.
Nguyên nhân là trong quá trình chế biến trứng muối phải sử dụng một lượng chì nhất định, trong khi chì có ảnh hưởng không tốt đến hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và quá trình tạo máu. Đặc biệt, bé còn rất mẫn cảm với chì, tỷ lệ hấp thu chì cao hơn rất nhiều so với người lớn. Não bộ và hệ thần kinh của bé còn chưa phát triển một cách đầy đủ, nên càng dễ bị tổn thương, do đó gây ảnh hưởng lớn đến trí lực của bé.
2. Gan động vật và độc tố tiềm ẩn
Gan động vật có hàm lượng dinh dưỡng phong phú, có thể bổ sung sắt và vitamin A, vì thế nhiều bà mẹ hay cho trẻ ăn gan động vật trong bữa ăn của bé. Nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng, tuy gan có hàm lượng dinh dưỡng phong phú, nhưng  cũng chính là "bộ máy giải độc" lớn nhất trong cơ thể, vì thế hàm lượng độc tố cũng như lượng khí thể hóa học trong gan cũng rất cao. Do đó bạn chỉ nên cho bé ăn một lượng gan vừa đủ, nếu ăn quá nhiều sẽ không có lợi cho sức khỏe bé. Ngoài ra, lượng vitamin A có trong gan động vật nếu tích tụ quá nhiều trong cơ thể cũng có thể dẫn đễn một số bệnh khác.
3. Sữa chua và chứng đau dạ dày
Sữa chua có vị chua chua ngọt ngọt, vì thế trẻ thường rất thích. Tuy nhiên ăn sữa chua quá nhiều có thể dẫn đến đau dạ dày, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa bình thường trong cơ thể. Hơn nữa không nên cho bé ăn sữa chua quá sớm (dưới 1 tuổi) vì đường ruột của bé dưới 1 tuổi còn rất non nớt, nếu bé ăn có thể gặp vấn đề về đường ruột.
4. Rau chân vịt và sự phát triển của xương
Các bà mẹ thường cho rằng rau chân vịt có hàm lượng sắt lớn, là loại rau xanh tốt nhất để bổ sung máu cho bé, vì thế thường cho bé ăn hàng ngày. Các nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra rằng, thực tế lượng sắt có trong rau chân vịt không nhiều đến vậy, thậm chí còn thấp hơn lượng sắt có trong rau cải xanh, cải trắng và cần tây.
Hơn nữa, lượng axit khá cao trong rau chân vịt khi được hấp thụ vào cơ thể, sẽ hòa tan canxi trong dạ dày, vì thế nếu ăn quá nhiều rau chân vịt, bé sẽ rất dễ bị thiếu canxi, thậm chí còn ảnh hưởng đến sự hấp thu kẽm, không có lợi cho sự phát triển xương và răng của trẻ.
5. Thực phẩm có tính axit và chứng cô độc
Thực phẩm có tính axit không phải là chỉ là thực phẩm có vị chua mà còn là các loại thịt, trứng và đường. Những thực phẩm này thường được cho là rất bổ dưỡng nhưng khi ăn nhiều, qua quá trình trao đổi chất trong cơ thể sẽ làm cho huyết mạch cũng có tính axit.
Ăn quá nhiều thực phẩm có tính axit sẽ hình thành nên thể chất mang tính axit, khiến các vi chất tham gia vào sự phát triển của não bộ và duy trì chức năng sinh lý như canxi, kali, magie tiêu hao, ảnh hưởng tới tâm trạng, làm cho bé mắc chứng bệnh cô độc.
Giải pháp: Điều chỉnh cơ cấu 3 bữa ăn, giảm tỉ lệ thức ăn có protein, chất béo, chất đường; tăng thêm thực phẩm có tính kiềm như rau xanh, hoa quả, làm cho độ kiềm axit trong máu trở lại cân bằng, giúp giải thoát bé khỏi chứng cô độc.
6. Các loại bột và bệnh cận thị
Rất nhiều ông bố bà mẹ thường xuyên cho bé ăn bột gạo, bột mỳ. Chuyên gia dinh dưỡng cho rằng ăn chất bột nghiền quá nhỏ trong một thời gian dài sẽ rất tới thiếu hụt sinh tố B, ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thần kinh. Ngoài ra, do mất quá nhiều Cr (Chromium) mà ảnh hưởng đối với phát triển thị lực, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra cận thị.
Cr là một loại hormone quan trọng trong cơ thể, nếu không đủ sẽ làm tính linh hoạt của insulin giảm đi, khả năng điều tiết đường trong máu giảm, gây ra bệnh cận thị.
Giải pháp: Mỗi ngày cơ thể cần 50-200mg nguyên tố Cr từ thức ăn trong khi các thực phẩm tinh chế như bột gạo, bột mỳ đã bị hao hụt tới 80% Cr. Vì vậy, nên cho bé ăn thức ăn nấu từ gạo nguyên hạt (nấu chín rồi xay nhỏ) để đảm bảo đủ chất.
7. Cafe, trà và chứng thấp bé
Trong cafe, trà có chứa rất nhiều cafein mà cafein lại gây ra trở ngại cho phát triển xương cốt của bé. Những đứa bé thường xuyên uống cafe, ăn kẹo bánh làm từ cafe thì sẽ có nguy cơ bị "lùn". Các bậc phụ huynh không nên xem nhẹ chuyện này.
Giải pháp: Thường xuyên cho bé uống nước lọc hoặc nước hoa quả tự nhiên, nên ít tiếp xúc hoặc không tiếp xúc với cafe.
8. Chocolate và chứng đái dầm
Chocolate được chứng minh là có rất nhiều chức năng bảo vệ sức khoẻ (bảo vệ tim, phòng chống ung thư, giảm béo, tạo hưng phấn) vì thế được nhiều chuyên gia dinh dưỡng gợi ý nên dùng. Chính vì vậy, chủ đề chocolate dinh dưỡng dần dần "nóng" lên và trở thành một loại thực phẩm thời thượng. Tuy nhiên, bé nên hạn chế sử dụng chocolate, nếu không sẽ dễ gây ra chứng đái dầm.
Cơ thể bé còn non nên việc ăn nhiều chocolate sẽ làm cho bàng bàng quang phình to, cơ bàng quang trở nên thô ráp, xuất hiện hiện tượng co thắt không chủ động. Đồng thời chocolate                  
cũng làm bé ngủ sâu khiến khi trong bọng đái đầy nước tiểu thì không thể tỉnh dậy kịp, lâu dần thành bệnh đái dầm.
Giải pháp: Nên ít cho bé ăn và uống chocolate, đặc biệt là trước lúc đi ngủ.
9. Cá khô và răng đốm vàng
Cá khô được chế biến từ cá biển, không chỉ giàu dinh dưỡng (protein, canxi, phốt pho) mà còn rất thơm ngon. Tuy nhiên, theo thực nghiệm, hàm lượng flour trong cá cao gấp 2.400 lần so với thịt bò, thịt dê, thịt lợn và gấp 4.800 lần so với rau xanh, hoa quả.
Trúng độc flour mãn tính trước tiên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển răng của bé, làm cho răng không bóng, mặt răng xuất hiện những nốt đen, hoa văn, răng chuyển màu vàng, gây nên bệnh răng đen vàng. Một khi đã hình thành nên răng đốm vàng flour thì không có cách nào để "khôi phục".
Giải pháp: Có thể làm đồ ăn vặt ở giữa hai bữa ăn, tuyệt đối không nên làm thức ăn "kháng chiến trường kỳ" cho bé.
10. Đồ lạnh và bệnh lồng ruột
Mỗi khi hè đến, tiết trời nóng bức không ít bé nằng nặc đòi uống đồ lạnh nhưng đường ruột của bé rất mỏng, khả năng cố định lại kém, mỗi khi bị đồ lạnh kích thích, rất dễ gây ra co thắt ở cơ bàng quang đường ruột và đẩy mạnh co bóp, từ đó gây ra bệnh lồng ruột và đường ruột tắc nghẽn, thậm chí gây nguy hại đến tính mạng.
Giải pháp: Nên ít cho bé ăn uống đồ lạnh, đặc biệt là bé dưới 2 tuổi càng cần phải hạn chế, nước có ga tuyệt đối nên tránh, kem cũng chỉ thỉnh thoảng được ăn vài miếng và không nên ăn trước bữa ăn, ăn sau bữa ăn 1 tiếng là thích hợp nhất.
Đồ uống hoặc thức ăn vừa mới lấy từ tủ lạnh ra nên để ở nhiệt độ phòng một lúc mới nên cho bé ăn.
(Theo Dinhduong.com.vn

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Đối với người cao tuổi, việc thiết lập một chế độ dinh dưỡng hợp lý là hết sức cần thiết, không phải hễ ăn nhiều là tốt; bởi vì trong giai đoạn này, các cơ quan chức năng của người cao tuổi đã bắt đầu đi vào quá trình lão hóa.
Người cao tuổi ít hoạt động so với thời trẻ. Mắt nhìn kém, tai nghe kém, mũi ngửi kém, lưỡi không nhạy, ảnh hưởng đến việc ngon miệng. Các cơ quan tiêu hóa hoạt động cũng kém trước. Hàm răng yếu, nhai cắn thức ăn khó khăn. Tuyến nước bọt bị teo, thiếu nước bọt nên nuốt khó. Dạ dày và ruột cũng teo đi. Dịch vị giảm, lượng men tiêu hóa giảm. Hoạt động của gan, thận yếu đi, khả năng lọc còn 60% gây ứ các chất thải ở máu. Ăn khó tiêu. Nhu động của ruột giảm dễ gây táo bón...
Tóm lại, ở người cao tuổi tất cả đều ảnh hưởng đến sự tiêu hóa hấp thu thức ăn, vì thế, người cao tuổi cần có một chế độ ăn uống hợp lý.
Giảm mức ăn so với thời trẻ: ăn giảm cơm

Nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm 30% so với người 25 tuổi. Do đó, tự nhiên người già đều ăn giảm đi. Nhưng có một số người, tuy tuổi đã cao vẫn cảm thấy ngon miệng nên ăn thừa, người quá mập.
Người quá mập, mỡ bọc các cơ quan nội tạng dễ dẫn đến suy tim, suy gan, suy thận. Cho nên, người nhiều tuổi cần chú ý giảm mức ăn so với thời trẻ. Trước đây, mỗi bữa ăn ba, bốn bát cơm, nay chỉ nên ăn hai bát, thậm chí một bát. Chú ý theo dõi cân nặng của mình. Cân nặng của người cao tuổi không nên vượt quá số cm của chiều cao trừ đi 105.
Ví dụ: người có tuổi cao 165cm, cân nặng không nên vượt quá 60kg.
Ăn giảm thịt, giảm đường, giảm muối
Ngoài việc giảm cơm, đối với những gia đình khá giả có mức ăn cao, các cụ cần chú ý tự giảm ăn thịt, giảm món ăn mỡ, giảm đường theo khuyến cáo của tháp dinh dưỡng cân đối. Thịt tính bình quân không vượt quá 1,5kg/người trong một tháng, mỡ dưới 600g, đường dưới 500g. Đối với tất cả mọi người, cần vận động ăn giảm muối. Bắt đầu dưới 300g/người/tháng. Rồi rút dần xuống dưới 200g vì ăn muối nhiều có liên quan đến bệnh cao huyết áp.
Tóm lại, người có tuổi cần ăn giảm cơm, giảm thịt, mỡ, giảm đường, bánh kẹo, nước ngọt và chú ý ăn nhạt hơn.
Ăn thêm đậu, lạc, vừng và cá
Ở người có tuổi, tiêu hóa hấp thụ chất đạm kém nên dễ xảy ra tình trạng thiếu đạm. Trong đậu, lạc, vừng và cá có nhiều đạm, nhiều dầu giúp đề phòng các bệnh về tim mạch. Vì thế, người nhiều tuổi nên ăn nhiều món từ đậu tương như: đậu phụ, sữa đậu nành...
Ở mỗi gia đình nên có một lọ vừng, lạc để có một món ăn chế biến sẵn bổ sung cho bữa ăn hàng ngày. Mỗi tuần ăn 2-3 bữa cá. Nên ăn cá nhỏ, kho nhừ để ăn được cả xương, có thêm can xi đề phòng bệnh xốp xương ở người cao tuổi. Đậu, lạc, vừng, cá vừa có tác dụng phòng chống các bệnh tim mạch và nhất là đậu phụ có tác dụng phòng chống ung thư. Tim mạch và ung thư là hai bệnh chính gây tử vọng ở người cao tuổi.
Ăn nhiều rau tươi, quả chín
Ở người nhiều tuổi, sức co bóp của dạ dày giảm, nhu động ruột giảm, dẫn đến táo bón. Khi táo bón kéo dài, vi sinh vật gây thối rữa phát triển tạo ra nhiều hơi trong ruột gây đầy bụng. Cơ hoành bị đẩy lên gây khó thở và trở ngại cho hoạt động của tim. Cho nên người có tuổi cần chú ý ăn nhiều rau để có chất xơ kích thích nhu động ruột, tránh táo bón.
Các chất xơ trong rau quả còn có tác dụng như cái chổi quét hết cholesterol thừa đẩy ra theo phân giúp cơ thể dễ phòng xơ vữa động mạch. Ăn rau tươi, quả chín cũng góp phần tăng cảm giác no khi ta ăn bớt cơm và điều quan trọng hơn là rau quả cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng hết sức quan trọng đối với người cao tuổi là các vitamin và chất khoáng.
Sử dụng hợp lý thực phẩm dùng cho người cao tuổi
- Gạo: chọn gạo dẻo, không xát quá trắng.
- Khoai, củ: người cao tuổi nên ăn bớt cơm và thay bằng khoai. Chú ý: khoai sọ không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.
- Đậu phụ, sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành vừa bổ, vừa giúp đề phòng các bệnh tim mạch và ung thư.
- Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều acid béo không no. Mỗi gia đình nên có lọ muối vừng lạc nhạt để ăn dần, bổ sung vào bữa ăn hàng ngày.
- Rau: bữa nào cũng cần có món rau, đặc biệt là các loại rau lá xanh có nhiều bêta - caroten kể cả trong các bữa tiệc cũng phải có món rau.
- Quả chín rất quý, cần tạo thói quen dùng quả tráng miệng sau bữa ăn.
-  Thịt, cá: người nhiều tuổi cần ăn giảm thịt, chỉ cần trung bình 1,5kg thịt một tháng. Nên ăn cá nhiều hơn, ba bữa một tuần. Cá nhỏ kho nhừ, ăn cả xương.
- Trứng bổ nhưng không nên lạm dụng. Trung bình 3 quả 1 tuần.
- Sữa bổ dễ tiêu. Đặc biệt, sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện mỗi ngày nên uống một cốc sữa chua.
- Mật ong: có tác dụng tốt trong các bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh; nhưng người có tuổi cần giảm chất ngọt (không quá 20g đường mỗi ngày).
- Mắm: là món ăn ngon được nhiều người ưa thích nhưng đối với người cao tuổi không nên ăn thường xuyên, mỗi lần ăn cũng nên dùng ít vì lượng muối trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.
- Muối: Có liên quan đến bệnh huyết áp cao, tai biến mạch máu não, nên ăn hạn chế. Khi nấu ăn cũng nên giảm lượng muối.
- Dưa: Muối xổi, dưa góp, dưa giá lên men lactic giúp ăn ngon miệng. Canh dưa là món ăn được ưa thích.
- Rượu: Người có tuổi có nhiều nguy cơ bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, cho nên rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người có tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên men như rượu vang, bia trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.
Cách ăn của người cao tuổi
- Ăn uống điều độ: Tránh ăn quá no, đặc biệt buổi tối trước khi đi ngủ và khi có bệnh ở hệ tim mạch. Chú ý những ngày lễ tết thường ăn quá mức bình thường và vui quá chén.
- Chế biến các món ăn hỗn hợp có nhiều gia vị, kích thích ăn ngon miệng, làm thức ăn mềm, nấu nhừ. Chú ý đến món canh. Cần quan tâm đến răng miệng và sức nhai, nuốt của người nhiều tuổi khi chế biến thức ăn vì tuyến nước bọt và hàm răng của người nhiều tuổi hoạt động kém, vấn đề nhai và nuốt thức ăn gặp khó khăn.
- Chú ý đảm bảo nước uống cho người cao tuổi: Cho người cao tuổi uống nước trắng hoặc nước chè. Hạn chế uống nước ngọt. Người cao tuổi hay quên, một số mất cảm giác khát. Cho nên cần xây dựng thành chế độ uống nước của người già và theo dõi việc thực hiện. Ví dụ: sáng uống hai cốc, trưa hai cốc, chiều hai cốc. Tránh uống nhiều nước buổi tối.
- Chú ý các thức ăn nguồn thực vật vì nếu biết cách chọn lựa, chế biến khéo sẽ tạo ra các món ăn ngon, bổ, dễ tiêu, giá rẻ.
- Cần đảm bảo vệ sinh trong chế biến món ăn và giữ gìn vệ sinh ăn uống. Thức ăn, nước uống là nguồn gây bệnh.
Tóm lại, cần đảm bảo cho người cao tuổi được ăn uống thoải mái, tìm được nguồn vui trong bữa ăn hàng ngày. Nguồn vui được tạo ra từ sự chăm sóc, tình cảm của người thân trong gia đình quan tâm đến vấn đề ăn uống, chế biến các món ăn mà người cao tuổi yêu thích. Nguồn vui còn do bản thân người cao tuổi biết cách giữ gìn, ăn uống điều độ.
Hoạt động thể chất (đi bộ đều đặn hàng ngày), hoạt động trí óc, sự cởi mở, quan hệ tốt với mọi người,... đều góp phần giúp cho con người thanh thản, thoải mái, ăn ngon, ngủ sâu, tiêu hóa hấp thu tốt. 
Theo : 

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

sức khỏe phụ nữ - Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (15-49) hằng tháng có vài nang noãn phát triển nhưng chỉ có một nang phát triển mạnh nhất (gọi là nang trội mà trước đây thường gọi là trứng), chứa nhiều dịch và một tế bào làm chức năng sinh sản gọi là noãn bào. 
Ảnh hưởng tới thai nhi

Khi đường kính của nang này lớn khoảng 20 mm (nang chín), nó tự vỡ để giải phóng noãn bào (được gọi là phóng noãn hay là rụng trứng). Noãn bào được hút vào vòi tử cung (còn gọi là vòi trứng), nếu gặp tinh trùng sẽ kết hợp với nhau (gọi là thụ tinh), rồi phát triển thành thai nhi. Phần còn lại của nang trứng sẽ nhỏ lại, gọi là hoàng thể. Hoàng thể tiết ra progesteron giúp phôi thai phát triển trong ba tháng đầu.
Việc buồng trứng bị thay đổi về cấu trúc mô học sẽ ảnh hưởng đến chức năng sinh sản cũng như sinh lý bình thường của người phụ nữ. Nếu một bên buồng trứng bị bệnh thì bên lành có thể thay thế hoàn toàn cho nó. Ngay cả khi một buồng trứng bị bệnh, nếu như tổ chức của nó chưa bị phá hủy hoàn toàn thì ở những phần còn lành, các nang noãn vẫn có thể phát triển nên bệnh nhân vẫn có kinh nguyệt và mang thai.
U thường không gây triệu chứng gì đặc biệt nếu không có biến chứng. Tuy nhiên, ở phụ nữ có thai, u nang buồng trứng lại là vấn đề đáng được quan tâm.
U nang buồng trứng gây vô sinh khi tổ chức buồng trứng bị hủy hoại hoàn toàn, không còn tế bào lành để phát triển thành nang trội. Có thể còn một số nang noãn nhưng phát triển không đầy đủ nên không phóng noãn được. Nếu buồng trứng vẫn còn một phần tổ chức lành thì vẫn có thể phóng noãn, nhưng u nang quá to sẽ chèn ép vòi tử cung, ngăn noãn bào và tinh trùng gặp nhau, gây vô sinh.
Một số trường hợp bệnh nhân vẫn có thai, nhưng do buồng trứng bị bệnh nên hoàng thể phát triển không tốt, gây sẩy thai. Nếu u to sẽ chèn ép vào tử cung, sẽ kích thích tử cung co bóp và cũng gây sẩy.
Ở nhiều trường hợp, u nang tuy lớn nhưng thai vẫn phát triển bình thường ở hai quý đầu; nhưng sang quý 3, thai đã lớn làm cho tử cung to ra nên khối u gây chèn ép, kích thích tử cung co bóp nhiều, khiến thai bị tống ra ngoài sớm.
U nang buồng trứng còn cản trở thai nhi bình chỉnh trong tử cung. Thông thường đến tháng thứ 7 hay thứ 8, đầu thai nhi phải quay xuống dưới để dễ ra ngoài khi sinh. Nếu u lớn, nó có thể chèn vào tử cung, ép tử cung vào thành bụng khiến thai nhi không thể quay đầu được, gây đẻ khó. Trong khi chuyển dạ, nếu khối u có đường kính khoảng 10 cm và nằm trong tiểu khung, nó sẽ không cho thai tiến vào lòng tiểu khung để ra ngoài, phải mổ lấy thai.
Tình trạng thai nghén cũng ảnh hưởng không tốt đến u nang buồng trứng. Khi không có thai, khối u thường nằm trong lòng tiểu khung; nhưng khi có thai, tử cung lớn dần đã đẩy khối u vào trong ổ bụng. Ruột di động làm cho khối u bị xoắn, gây nên bệnh cảnh cấp cứu ngoại khoa, cần mổ gấp.
Khi có thai, triệu chứng u nang buồng trứng xoắn khó chẩn đoán hơn. Khi mổ cấp, tử cung bị kích thích dễ gây sẩy thai hoặc đẻ non. Sau khi sinh, tử cung thu nhỏ lại, ổ bụng rộng rãi, khối u di động nhiều nên cũng dễ bị xoắn và phải mổ cấp cứu.
Lưu ý
khám phụ khoa trước hôn nhân - Một cặp vợ chồng sống với nhau sau một năm mà không có thai thì phải đi khám bệnh. Nếu có u nang buồng trứng thì rí tùy thuộc tình trạng khối u mà mổ bóc tách hay cắt bỏ. Khi có thai, phải khám ngay từ tháng đầu tiên để được xét nghiệm, trong đó có siêu âm phát hiện u nang. Nếu u xoắn thì phải mổ ngay. Nếu u không bị xoắn thì có thể mổ vào ba tháng giữa vì lúc này thai nghén tương đối ổn định, ít bị sẩy do phẫu thuật hơn. Tuy nhiên, tốt nhất là không nên can thiệp ngoại khoa; chờ khi chuyển dạ nếu đẻ khó bắt buộc phải mổ lấy thai thì cắt hay bóc tách khối u luôn.
Phải nhớ rằng chẩn đoán u nang buồng trứng trong khi có thai nhiều khi khó khăn, thường bị nhầm với dọa sẩy hay đẻ non. Khi có chẩn đoán chính xác thì thường đã muộn, việc xử trí nhiều khi chậm trễ, để lại những hậu quả không tốt cho thai nghén.
Trong khi có thai hoặc sau đẻ, nếu đau bụng thì phải đi khám ngay để nếu u bị xoắn thì được xử trí đúng đắn và kịp thời.

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Đây là một sai lầm không chỉ bạn mà nhiều người mắc phải. Cách làm này không chỉ không có tác dụng với rau ngậm hóa chất mà còn làm mất rất nhiều dinh dưỡng trong rau. Bởi vì, trong rau xanh chứa rất nhiều nước, căn cứ vào nguyên lý thẩm thấu, nếu ngâm lâu rau trong nước sẽ khiến nước bên ngoài xâm nhập vào rau để đạt trạng thái dung dịch cân bằng. 
Đến khi vách tế bào bị phá vỡ do lượng nước thẩm thấu quá nhiều thì dung dịch trong tế bào chất sẽ hòa tan với môi trường nước bên ngoài. Vì vậy, các chất dinh dưỡng trong rau cũng bị hòa tan với nước môi trường nước bên ngoài. Rau sau khi cắt, lại bị ngâm vào nước sẽ bị tổn thất từ 14-23%, nếu ngâm trong một đêm thì lượng vitamin C gần như bị thất thoát hoàn toàn. Các chất dinh dưỡng khác như vitamin nhóm B hoặc khoáng chất, protein tan trong nước cũng bị thất thoát giống như vậy.

Nếu bạn muốn rửa rau cho sạch, nhất là với những loại rau trồng dưới nước vì có nhiều kí sinh trùng bám trực tiếp lên rau mà mắt thường không thể nhìn thấy được, trong đó nhiều nhất là trứng của ký sinh trùng và vi khuẩn thì cách tốt nhất là nên rửa trực tiếp từng lá rau dưới vòi nước chảy. Biện pháp này cũng rất có hiệu quả trong việc loại bỏ dư lượng hóa chất trừ sâu còn bám trên lá rau.
Khi chế biến, bạn cũng nên mở nắp vung nồi. Trong rau có một lượng lớn axít hữu cơ, trong đó có một số loại có hại với cơ thể. Những axít hữu cơ này sẽ bay hơi trong quá trình chế biến. Vì vậy khi chế biến nên mở nắp vung để loại bỏ những chất độc hại đối với cơ thể, đồng thời còn có tác dụng giữ được chất diệp lục và lượng magiê trong rau. Ngoài ra, không nên nấu chín rau trước bữa ăn quá lâu vì trong quá trình chế biến, nước và chất dinh dưỡng trong rau xanh bị tách ra. Thời gian để càng dài thì các chất dinh dưỡng bị tách ra càng nhiều và rau không còn tươi, xanh nữa.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Một cơ thể có khỏe mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào một hệ tiêu hóa khỏe mạnh.

Do đó hệ tiêu hóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của bạn. Dưới đây là danh sách những thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa của bạn.
 Một cơ thể có khỏe mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào một hệ tiêu hóa khỏe mạnh.

 Do đó hệ tiêu hóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của bạn. Dưới đây là danh sách những thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa của bạn.


Sữa chua

Sữa chua là sản phẩm thu được khi lên men lactic sữa động vật, có nhiều ích lợi đối với sức khỏe. Nhờ quá trình lên men lactic, một phần protein trong sữa phân giải thành các axit amin, các chất đường bột chuyển hóa thành đường lactoza dễ tiêu hóa. Sũa chua chứa nhiều vi khuẩn lactic nên sữa chua đặc biệt tốt cho đường ruột, dạ dày và hệ tiêu hóa nói chung. Sữa chua rất thích hợp với người già, trẻ em, người mới ốm dậy, nhất là những người mắc bệnh về tiêu hóa. Hãy ăn sữa chua mỗi ngày để giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh.

Tảo bẹ và rong biển

Trong tảo bẹ và rong biển chứa một số lượng lớn các chất nhuận tràng, thúc đẩy bài tiết các chất độc phóng xạ trong cơ thể ra ngoài cùng với phân. Ăn tảo bẹ mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân ung thư đang hóa trị. Chúng được coi là thực phẩm có tính kiềm, làm sạch máu. Ăn tảo bẹ và rong biển có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư.

Khoai lang

Khoai lang là một trong những thực phẩm giúp nhuận tràng, cải thiện các bệnh về đường ruột, tiêu hóa và chống ung thư hiệu quả. Trong khoai lang rất nhiều ba chất: beta-carotene, vitamin C và axit folic. Một củ khoai lang nhỏ có thể đáp ứng 2 lần lượng vitamin A, vitamin C cần thiết hằng ngày của con người và khoảng 50 microgram axit folic. Chất chống oxy hóa beta-carotene và vitamin C đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh ung thư.
Thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Đậu đỏ

Đậu đỏ có chứa saponin có thể kích thích đường ruột. Nó có tác dụng lợi tiểu tốt, tăng cường sự tỉnh táo, giải độc, bệnh tim và bệnh thận. Đậu đỏ chứa chứa nhiều chất xơ có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp, điều tiết lượng đường trong máu, giảm cân… Đậu đỏ còn là một thực phẩm rất giàu axit folic. Các bà mẹ đang mang bầu hay cho con bú ăn nhiều đậu đỏ sẽ rất tốt cho thai nhi và sức khỏe thể chất.
Thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Chuối

Chuối giúp phục hồi chức năng ruột, cung cấp lại chất điện phân và kali bị mất do bệnh tiêu chảy. Loại quả này cũng có rất nhiều chất xơ để hỗ trợ tiêu hóa. Ăn chuối mỗi ngày cho bạn hệ tiêu hóa khỏe mạnh và sạch ruột.

Cần tây

Cần tây là một loại thực phẩm nhiều chất xơ có tác dụng chống ung thư, lignin và lipid trong cần tây là một chất chống oxy hóa ở nồng độ cao có thể ức chế các vi khuẩn đường ruột được sản xuất bởi chất gây ung thư. Nó cũng có thể tăng tốc độ thời gian của phân trong ruột, làm giảm tiếp xúc của chất gây ung thư và niêm mạc đại tràng, và đạt được mục đích ngăn ngừa ung thư ruột kết. Bên cạnh đó cần tây còn có hàm lượng sắt cao, có thể bổ sung cho người thiếu máu. Thường xuyên ăn cần tây còn có thể cải thiện acid và acid uric trong cơ thể hiệu quả, phòng chống bệnh gút.

Yến mạch

Yến mạch có chất xơ, folate, vitamin A và kẽm, làm cho quá trình tiêu hóa dễ dàng hơn. Yến mạch nguyên hạt là tốt nhất vì nó làm bạn có cảm giác no cho dù ngay cả lúc dạ dày đang trống rỗng. Chất xơ rất quan trọng đối với sức khỏe tiêu hóa vì nó giúp vận chuyển thức ăn và ngăn ngừa táo bón. Yến mạch là một trong những nguồn tự nhiên tốt nhất của chất xơ, cũng như hàm lượng vitamin và khóang chất phong phú giúp cải thiện sức khỏe tổng thể của cơ thể.
Thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Trà thảo dược

Các loại trà thảo dược không chứa caffeine giúp điều hòa hệ thống tiêu hóa, ngăn các chứng khó chịu, đầy bụng. Trà thảo dược chiết xuất từ hoa cúc được khuyên dùng vì chúng có tác dụng giảm viêm nhiễm trong dạ dày. Các loại trà thảo dược giúp hấp thụ khí, giảm stress, thúc đẩy lưu lượng máu đến hệ tiêu hóa và loại bỏ các chất thải độc, ô nhiễm tốt hơn. Sử dụng các loại thảo mộc đặc biệt được khuyến khích cho những người bị táo bón, tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột và loét dạ dày.
Sữa chua

Sữa chua là sản phẩm thu được khi lên men lactic sữa động vật, có nhiều ích lợi đối với sức khỏe. Nhờ quá trình lên men lactic, một phần protein trong sữa phân giải thành các axit amin, các chất đường bột chuyển hóa thành đường lactoza dễ tiêu hóa. Sũa chua chứa nhiều vi khuẩn lactic nên sữa chua đặc biệt tốt cho đường ruột, dạ dày và hệ tiêu hóa nói chung. Sữa chua rất thích hợp với người già, trẻ em, người mới ốm dậy, nhất là những người mắc bệnh về tiêu hóa. Hãy ăn sữa chua mỗi ngày để giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh.

Tảo bẹ và rong biển

Trong tảo bẹ và rong biển chứa một số lượng lớn các chất nhuận tràng, thúc đẩy bài tiết các chất độc phóng xạ trong cơ thể ra ngoài cùng với phân. Ăn tảo bẹ mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân ung thư đang hóa trị. Chúng được coi là thực phẩm có tính kiềm, làm sạch máu. Ăn tảo bẹ và rong biển có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư.

Khoai lang

Khoai lang là một trong những thực phẩm giúp nhuận tràng, cải thiện các bệnh về đường ruột, tiêu hóa và chống ung thư hiệu quả. Trong khoai lang rất nhiều ba chất: beta-carotene, vitamin C và axit folic. Một củ khoai lang nhỏ có thể đáp ứng 2 lần lượng vitamin A, vitamin C cần thiết hằng ngày của con người và khoảng 50 microgram axit folic. Chất chống oxy hóa beta-carotene và vitamin C đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh ung thư.
Thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Đậu đỏ

Đậu đỏ có chứa saponin có thể kích thích đường ruột. Nó có tác dụng lợi tiểu tốt, tăng cường sự tỉnh táo, giải độc, bệnh tim và bệnh thận. Đậu đỏ chứa chứa nhiều chất xơ có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp, điều tiết lượng đường trong máu, giảm cân… Đậu đỏ còn là một thực phẩm rất giàu axit folic. Các bà mẹ đang mang bầu hay cho con bú ăn nhiều đậu đỏ sẽ rất tốt cho thai nhi và sức khỏe thể chất.
Thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Chuối

Chuối giúp phục hồi chức năng ruột, cung cấp lại chất điện phân và kali bị mất do bệnh tiêu chảy. Loại quả này cũng có rất nhiều chất xơ để hỗ trợ tiêu hóa. Ăn chuối mỗi ngày cho bạn hệ tiêu hóa khỏe mạnh và sạch ruột.

Cần tây

Cần tây là một loại thực phẩm nhiều chất xơ có tác dụng chống ung thư, lignin và lipid trong cần tây là một chất chống oxy hóa ở nồng độ cao có thể ức chế các vi khuẩn đường ruột được sản xuất bởi chất gây ung thư. Nó cũng có thể tăng tốc độ thời gian của phân trong ruột, làm giảm tiếp xúc của chất gây ung thư và niêm mạc đại tràng, và đạt được mục đích ngăn ngừa ung thư ruột kết. Bên cạnh đó cần tây còn có hàm lượng sắt cao, có thể bổ sung cho người thiếu máu. Thường xuyên ăn cần tây còn có thể cải thiện acid và acid uric trong cơ thể hiệu quả, phòng chống bệnh gút.

Yến mạch

Yến mạch có chất xơ, folate, vitamin A và kẽm, làm cho quá trình tiêu hóa dễ dàng hơn. Yến mạch nguyên hạt là tốt nhất vì nó làm bạn có cảm giác no cho dù ngay cả lúc dạ dày đang trống rỗng. Chất xơ rất quan trọng đối với sức khỏe tiêu hóa vì nó giúp vận chuyển thức ăn và ngăn ngừa táo bón. Yến mạch là một trong những nguồn tự nhiên tốt nhất của chất xơ, cũng như hàm lượng vitamin và khóang chất phong phú giúp cải thiện sức khỏe tổng thể của cơ thể.
Thực phẩm vàng cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Trà thảo dược

Các loại trà thảo dược không chứa caffeine giúp điều hòa hệ thống tiêu hóa, ngăn các chứng khó chịu, đầy bụng. Trà thảo dược chiết xuất từ hoa cúc được khuyên dùng vì chúng có tác dụng giảm viêm nhiễm trong dạ dày. Các loại trà thảo dược giúp hấp thụ khí, giảm stress, thúc đẩy lưu lượng máu đến hệ tiêu hóa và loại bỏ các chất thải độc, ô nhiễm tốt hơn. Sử dụng các loại thảo mộc đặc biệt được khuyến khích cho những người bị táo bón, tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột và loét dạ dày.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

Không thiếu bệnh nhân xanh mặt khi nhận chẩn đoán “xơ vữa mạch máu”, cứ như mạch máu bị tắc trên... mặt! Lo là phải, vì bệnh không dễ chữa, vừa tốn tiền vừa tốn thời gian vì liệu pháp khó lòng chấm dứt trong vài tuần, thậm chí vài tháng!
Thanh Lọc Cơ Thể Với Những Thực Phẩm Tự Nhiên


Bệnh xơ vữa động mạch tăng
Xơ vữa mạch máu do chất vôi, chất mỡ đóng vào thành mạch không chỉ là nguyên nhân gây tắc nghẽn mạch với hậu quả nghiêm trọng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, nếu xảy ra ở chỗ nhược như vỏ não, thành tim. Đó là dấu hiệu cho thấy tình trạng lão hóa đã theo chân rối loạn biến dưỡng để chiếm thế thượng phong. Hiểu vậy nên thầy thuốc khắp nơi đã từ lâu cổ động cho biện pháp phòng chống xơ vữa động mạch, từ giảm cân, tăng vận động cho đến chế độ dinh dưỡng chống tăng mỡ máu.
Khuyên là một chuyện, nghe là chuyện khác. Hiểu là một chuyện, thực hiện được hay không cũng là chuyện khác. Thành thật mà nói, bên cạnh những lý do lực bất tòng tâm, cũng phải thông cảm là nhiều người không dễ tuân thủ lời khuyên của thầy thuốc trong bối cảnh căng thẳng của cuộc sống hiện nay. Do đó, không lạ gì nếu số nạn nhân của tình trạng xơ vữa mạch máu đang và sẽ tiếp tục tăng cho dù ngành y mỗi lúc một tiến bộ.

Một số rau quả có tác dụng thông mạch tốt hơn các món khác. Ảnh: Tấn Thạnh
Chế dộ dinh dưỡng nhiều rau quả
Đáng nói hơn nhiều là định kiến hễ đã xơ vữa thì hết đường cứu chữa. Đa số thầy thuốc cũng vì thế nên áp dụng chiến thuật làm sao để đừng xơ thêm, đừng vữa tiếp là hay rồi.
Đáng tiếc vì các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu là phần nào vẫn có thể phục hồi mạch máu đã chai cứng nếu kiên nhẫn áp dụng chế độ dinh dưỡng với tỉ lệ rau quả chiếm không dưới 70% của khẩu phần. Họ cũng đã xác minh qua mô hình nghiên cứu với cả trăm bệnh nhân đã được thông tim là mạch máu trở nên thông thoáng sau 2 năm đồng hành với rau quả, thay vì mạnh miệng với thịt cá. Hơn thế nữa, kết quả khảo sát cho thấy một số gia vị và rau quả rõ ràng có tác dụng thông mạch tốt hơn các món khác, như tỏi, hành, nghệ, gừng, cà rốt, cần tây, rau dền, táo tây, trà xanh, cà phê xanh... Cũng theo các nhà nghiên cứu, muốn tối ưu hóa tác dụng rửa mạch máu cần mỗi tuần 3 ngày có tất cả bữa ăn chỉ toàn rau quả tươi. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu ở ĐH Hannover (CHLB Đức) quả quyết là thói quen ngày 5 lần, mỗi lần không hơn 50 g trái cây, là phương pháp hiệu quả để phòng chống chất sinh ung thư đang tràn ngập trong môi trường ô nhiễm, thực phẩm công nghệ, hóa chất gia dụng...
Phục hồi mạch máu xơ vữa
Đi xa hơn nữa, GS Verlangieri ở ĐH Mississippi (Mỹ) đã chứng minh là mạch máu dù bị xơ vữa vẫn có thể phục hồi với các loại rau cải, mễ cốc chứa nhiều sinh tố E. Đó là lý do tại sao chuyên gia này đặt 2 món giá sống và rau mầm vào vị trí thậm chí cao hơn thuốc đặc hiệu trong phác đồ điều trị. Công trình nghiên cứu của Verlangieri đồng thời là dẫn chứng cho thấy tại sao sinh tố E thiên nhiên có lợi thế hơn sinh tố tổng hợp mặc dù thuốc chứa sinh tố E tổng hợp thường có hàm lượng cao hơn trong thực phẩm. Không dễ gì thay thế được món ăn nên thuốc có sẵn trong trời đất.
Với cuộc sống càng lúc càng xa rời quy luật của thiên nhiên, xơ vữa mạch máu là thực tế khó tránh. Nhưng nói thế không có nghĩa là phải chịu trận được bao lâu hay bấy nhiêu. Rõ ràng, không thiếu phương pháp sinh học để không chỉ cầm chân mà thậm chí đẩy lùi đối phương dù chỉ một bước nhỏ.

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

Theo các chuyên gia dinh dưỡng cho biết việc duy trì lá gan khỏe mạnh là điều cần thiết cho một làn da đẹp và một sức khỏe tốt. Chúng ta cùng điểm danh các loại thực phẩm giúp thanh lọc gan hiệu quả nhé.

1. Tỏi
Tỏi không chỉ là một loại gia vị quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày mà còn là một loại thực phẩm rất tốt trong việc làm sạch gan. Tỏi có tác dụng ức chế các enzym sản xuất ra độc tố, selen và allicin có trong tỏi giúp bảo vệ gan luôn được sạch và khỏe mạnh. Do đó bạn nên chế biến thêm tỏi vào các món ăn hàng ngày để giúp cho bữa ăn càng thêm hấp dẫn lại tốt cho gan.


Tỏi giúp bảo vệ gan luôn được khỏe mạnh
2. Nghệ
Nghệ tươi có tác dụng giải độc gan nhờ sợ hỗ trợ của các enzym giải độc gan và bảo vệ gan. Những người thường xuyên uống rượu bia nên ăn nhiều nghệ hơn để tránh bị hỏng gan.
3. Các loại trái cây chứa nhiều vitamin C
Các loại trái cây giàu vitamin C như cam, quýt, bưởi, kiwi, ổi,… có tác dụng như các chất chống oxy hóa tự nhiên giúp giải độc và bảo vệ gan hiệu quả.
4. Quả óc chó
Quả óc chó chứa nhiều arginine, đây là một loại axit amin có khả năng giải độc amoniac. Bên cạnh đó nó có chứa nhiều axit béo omega-3 và glutathione, giúp hỗ trợ các hoạt động thải độc của gan.
5. Dầu ô liu

Dầu oliu là một trong các thực phẩm giúp thanh lọc và bảo vệ gan
Dầu ô liu là một loại dầu thực vật có thể cung cấp hàm lượng lipid hấp thụ các chất độc hại trong cơ thể một cách hiệu quả. Bạn có thể sử dụng dầu oliu để trong khi chế biến các món ăn hoặc cũng có thể ăn trức tiếp để thanh lọc gan và bảo vệ gan.
6. Các loại ngũ cốc
Các loại ngũ cốc nguyên hạt có chứa hàm lượng vitamin B rất cao, giúp cải thiện metabolization trong chất béo, decongestion trong gan và chức năng gan chung.
7. Các loại rau xanh

Các loại rau xanh giàu vitamin và chất xơ không chỉ tốt cho cơ thể mà còn giúp duy trì lá gan khỏe mạnh. Chất chlorophyls có trong rau xanh có khả năng hút độc tố ra khỏi máu.
8. Trà xanh

Trà xanh chứa chất oxy hóa giúp nâng cao khả năng giải độc gan
Chất catechin có trong trà xanh là chất chống ôxy hóa, giúp nâng cao khả năng giải độc của gan.
9. Cà rốt

Cà rốt có tác dụng kết dính và giải độc thủy ngân, giảm nồng độ và loại trừ nhanh chóng các ion thủy ngân trong máu.
10. Mướp đắng
Mướp đắng hay còn gọi là khổ qua là một loại thực phẩm có vị đắng nhưng có tác dụng thanh nhiệt, giải độc và làm sáng mắt. Đặc biệt đối với những bệnh nhân tiểu đường thì mướp đắng có thể giúp ổn định đường huyết. Bên cạnh đó, mướp đắng còn có một dạng protein có khả năng phòng ngừa ung thư, kích thích hoạt động của hệ miễn dịch và giúp loại trừ độc tố hiệu quả.

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

Theo nghiên cứu, vải thiều có hàm lượng đường cao, giàu acid hữu cơ, các muối khoáng Ca, Fe, P, các vitamin B1, B2,... Vì vậy, loại quả này còn được dùng làm thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên, trong cùi quả vải thiều có nhiều đường glucoza, nếu ta ăn nhiều một lượng lớn vải tươi một lúc có thể khiến lượng lớn đường glucoza vào máu vượt quá khả năng hấp thu chuyển hóa của gan.

Do đó, các chuyên gia y tế khuyên một số đối tượng người tiêu dùng không nên ăn nhiều vải thiều.

Người bị tiểu đường

Vải thiều không phải là hoa quả được khuyến khích cho người bệnh tiểu đường. Báo Chất lượng Việt Nam cho biết, sách thuốc cổ có ghi: “Thường xuyên ăn vải sẽ bổ não, ích trí, khai vị, lợi tỳ, rất tốt cho người mới ốm dậy, suy nhược, gầy yếu; dưỡng da làm đẹp nhan sắc, chữa được nhiều bệnh…”.
Tuy nhiên, vì hàm lượng đường cao nên ăn nhiều dễ làm tăng đường huyết nhanh, điều này rất không có lợi cho những người bị bệnh tiểu đường.

Người máu nóng, nhiệt miệng…

Vải thiều là loại hoa quả nổi tiếng có tính nóng. Khi cơ thể bị nóng trong, ăn vải thiều sẽ khiến mụn hay những vết ban đỏ xuất hiện, thậm chí sẽ dẫn tới các phản ứng xấu như tiêu chảy, đau đầu, chóng mặt, chân tay bủn rủn.
Ngoài ra, những người có các bệnh dễ nhiễm cảm, người đang mắc bệnh có đờm, người đang bị thủy đậu, mụn nhọt,  rôm sảy, chắp lẹo mắt … cũng nên hạn chế mức tối đa việc ăn vải thiều.

Thai phụ từng mắc chứng tiểu đường, thừa cân

Theo kinh nghiệm của người xưa thì vải là loại quả ngọt, ăn vào giúp cho dung nhan đẹp hơn. Tuy nhiên, không nên vì thế mà chị em ăn vải một cách thoải mái, “vô tội vạ” bởi quả vải có hàm lượng đường rất cao, không tốt cho những thai phụ đã từng mắc bệnh tiểu đường cũng như chứng thừa cân.
Bên cạnh đó, vải còn có tính nóng nên bà bầu cần hạn chế, không nên bổ sung quá nhiều vào cơ thể.

Trẻ em

Vải là loại hoa quả ngọt, dễ ăn, có tác dụng chữa bệnh tốt. Tuy nhiên, Báo Đất Việt cho hay, không nên ăn quá nhiều trong một lúc, có thể gây nóng, rối loạn chuyển hóa đường trong cơ thể, gây hiện tượng dị ứng.

Đặc biệt, với trẻ em, hệ tiêu hóa còn yếu, dó đó bạn cần cho bé ăn một lượng vừa phải, không nên chiều con mà để bé ăn quá nhiều khiến bé bị bệnh. Mỗi lần chỉ nên cho bé ăn khoảng 100g vải tươi (khoảng 5 - 6 quả).

Lưu ý: Người bình thường không ăn quá nhiều vải

Quả vải bổ sung một lượng nước cho cơ thể, có lợi cho dạ dày. Tuy nhiên, vải thiều được xếp vào những loại quả không nên ăn nhiều vào mùa hè, ngay cả đối với người bình thường.
Bởi trong cùi quả vải thiều có nhiều đường glucoza, nếu ta ăn nhiều một lượng lớn vải tươi một lúc có thể khiến lượng lớn đường glucoza vào máu vượt quá khả năng hấp thu chuyển hóa của gan. Khi lượng đường glucoza tăng đột biết, cơ thể phản ứng, tiết insulline tăng lên để làm hạ nồng độ đường trong máu xuống, gây phản ứng đường máu thấp còn gọi là triệu trứng "say vải". Biểu hiện thường gặp là váng đầu, buồn nôn, ra mồ hôi lạnh, nóng trong người khiến nổi nhiều mụn…

Theo Mạc Nhiên (Đời sống & Pháp luật)

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Dùng bình nhựa muối dưa có an toàn?

Dưa muối là món ăn có mặt thường xuyên trong các gia đình vào ngày hè nóng. Món ăn này có tác dụng kích thích tiêu hóa và bổ sung các vi sinh vật có lợi cho hệ thống tiêu hoá của con người như lactobacilli, acidophilus và plantarum. Dưa muối khi kết hợp với các sản phẩm giàu đạm sẽ tạo cảm giác ngon miệng.

Tuy nhiên, nếu không chế biến và ăn dưa muối đúng cách sẽ dẫn tới nguy cơ ngộ độc. Bên cạnh đó, nhiều người còn lo lắng trước những thông tin muối dưa trong bình nhựa sẽ gây ung thư hay gây mầm bệnh. Vậy thực hư trước điều này như thế nào?
Theo Tiến sĩ Lâm Văn Mân – Trưởng phòng Nghiên cứu phát triển và Chuyển giao công nghệ (Viện an toàn thực phẩm) cho biết: Nhựa dùng để muối dưa không vấn đề nhưng với điều kiện bình nhựa đó phải đạt tiêu chuẩn. Hiện nay, nhiều người dân dùng thùng đựng sơn để muối dưa chua thì cực kì nguy hiểm. Lý do là hai loại bình này tiêu chuẩn khác nhau.

Nhựa của bình đựng sơn có hàm lượng kim loại nặng sẽ cao. Kim loại nặng ở đây gồm các chất như chì, cadimi, asen... Khi muối dưa sẽ nhiễm ra nước muối dưa và ngấm vào sản phẩm. Điều này rất độc hại với người ăn, dễ gây bệnh đường ruột hoặc nặng nhất là ung thư nếu ăn thường xuyên và ăn với số lượng nhiều.

Ngoài ra một số người thắc mắc về nguyên nhân dẫn đến những vụ ngộ độc thực phẩm (dưa muối, cà muối xổi) thời gian gần đây, tiến sĩ cho biết nguyên nhân là do:

- Nguyên liệu không đủ sạch để muối dưa.

- Trong quá trình nuôi trồng, người sản xuất sử dụng quá nhiều chất bảo quản thực vật sẽ gây độc.

- Thời gian muối dưa, ủ dưa chưa đủ để diệt những vi khuẩn gây bệnh.

Những lưu ý khi ăn dưa muối

Tiến sĩ Mân cũng lưu ý thêm về cách muối dưa an toàn, đảm bảo vệ sinh:

- Trước khi muối dưa phải rửa sạch từ  nguyên liệu từ 1-2 giờ, sau đó ngâm trong nước muối loãng từ 15-30 phút.
- Tuyệt đối không ăn dưa muối để lâu, xuất hiện nấm mốc trên bề mặt. Nếu quan sát bằng mắt thường, thấy váng hay cặn nổi trên bề mặt cũng không ăn.

- Tránh ăn dưa có màu xỉn hay có mùi lạ.

- Những người có bệnh tim, cao huyết áp, bệnh thận, bệnh gan, viêm loét dạ dày không nên ăn dưa muối chua vì chúng chứa nhiều muối, men tiêu hoá cao, có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Theo Tuệ Linh (Khám Phá)

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Rau sống là một thành phần không thể thiếu trong nhiều món ăn của ẩm thực Việt Nam. Nhưng cũng chính rau sống là nguồn lây truyền khá nhiều bệnh tật cho con người. Phát biểu với báo Tri thức trực tuyến, mới đây bác sĩ Dzoãn Thị Tường Vi (nguyên Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 108) nói rằng người ăn rau sống phải đối mặt với nguy cơ mắc các chứng viêm nhiễm đường tiêu hóa, giun sán, nhiễm độc thuốc trừ sâu cấp hoặc mạn tính.

Trong đó bệnh đường tiêu hóa là dễ gặp nhất và có liên quan trực tiếp đến thói quen ăn rau sống. Bác sĩ Vi cũng cho biết thêm là các loại rau như xà lách, húng chó, mùi là những loại rau tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh đường ruột nhất.
Trong mấy năm qua, đã từng xảy ra một số vụ vì ăn rau sống mà bị ngộ độc. Chẳng hạn tháng 9/2013 ở Kon Tum, 27 người đã bị ngộ độc phải đưa vào Trung tâm Y tế huyện Sa Thầy cấp cứu. Theo báo Công an TP. HCM, nguyên nhân ban đầu được xác định là do món rau sống.

Theo các chuyên gia, sở dĩ rau sống có thể gây ngộ độc và các ảnh hưởng có hại cho sức khỏe là vì nó thường được tưới bằng nước tiểu, phân tươi, nước từ mương ao, cống rãnh… Chính vì thế nó dễ nhiễm các ký sinh trùng như giun kim, giun móc, sán lá gan…

Để khử trùng cho rau, người dân và ngay cả các nhà hàng, quán ăn thường ngâm rau với nước muối hoặc dung dịch thuốc tím. Tuy vậy, PGS. TS Trần Đáng (nguyên Cục trưởng Cục Vê sinh An toàn Thực phẩm, Bộ Y tế) chia sẻ với báo Tri thức trực tuyến rằng, nước muối hay thuốc tím không có tác dụng gì với trứng giun và một số vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là các hóa chất bảo vệ thực vật.

Các chuyên gia Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (TP.HCM) từng nghiên cứu trên 8 loại rau sống thường được ăn nhiều nhất như xà lách, rau muống, cải bẹ xanh, rau đắng, cải cúc, rau má, rau thơm gia vị, xà lách xoong. Kết quả thật đáng sợ, tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau lên tới 92,3 đến 100%. Kể cả rau đã được rửa sạch bằng 3 lần nước và rửa bằng nước chuyên dụng thì tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng vẫn ở mức 51,9% đến 82,6%.

Do vậy, các chuyên gia khuyến cao, tốt nhất không nên ăn rau sống mà nên chần qua.

Ngoài ra, một số người thuộc các đối tượng sau nhất định không nên ăn rau sống. Những người này gồm phụ nữ mang thai, người bị viêm đại tràng, người bị đau dạ dày và người dễ bị cảm cúm.

Theo Trần Long (Đời sống & Pháp luật)

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Thời gian qua, thông tin trên thị trường xuất hiện tôm bơm tạp chất, mực ướp ô-xy già... khiến người tiêu dùng hoang mang. Mới đây, lực lượng chức năng của Chi cục đã bất ngờ kiểm tra và phát hiện một cơ sở kinh doanh hải sản ở Đông Anh đang tiến hành bơm tạp chất làm tươi những con tôm chết để bán ra thị trường. Tại cơ sở này đã thu giữ được 150kg tôm bơm tạp chất.
Chia sẻ trên báo Gia đình và Xã hội, ThS Trần Trọng Vũ, giảng viên khoa Công nghệ thực phẩm (ĐH Công nghệ Sài Gòn), ô-xy già (hydro peroxide – H2O2) là hoá chất có tính ô-xy hoá rất mạnh, có khả năng tẩy trắng và sát khuẩn. Trong danh mục phụ gia cho phép sử dụng của Bộ Y tế (Quyết định 3742/2001/QÐ-BYT) thì ô-xy già không được phép sử dụng trong thực phẩm.

Ðiều đáng nói là quy trình tẩy trắng hải sản bằng hoá chất ngày càng tinh vi, người tiêu dùng không dễ nhận biết đâu là thực phẩm tươi sống, từ đó dễ gây ngộ độc thực phẩm.

Vì vậy, khi chọn mua hải sản, tốt nhất người tiêu dùng cần hết sức tỉnh táo để chọn mua loại thực phẩm tươi sống chất lượng đảm bảo.

Phân biệt mực không ngậm hóa chất
Có rất nhiều loại như mực nang, mực ống, mực sim… Nếu bạn muốn chọn mực tươi thì nên chọn con to, dày mình, trắng trong, thịt chắc không bị nát, lớp màng màu nâu bao quanh đều bên ngoài đối với mực nang, còn mực ống thì chọn con có lớp thịt màu sáng hơi hồng, dầu vẫn dính chặt vào thân, túi mực chưa bị vỡ.

Còn đối với mực kém tươi, màu con mực đã chuyển sang hơi xanh ngà, thịt nhão, đầu không dính chặt với thân, kèm theo mùi rất tanh do túi mực bị vỡ.

Phân biệt tôm không ngậm hóa chất
Theo thông tin trên báo Khám phá, tôm tươi ngon thì trước tiên thân phải săn chắc, vỏ còn cứng, màu trắng trong chứ không đục hay ngả sang đỏ, vàng. Phần đầu dính chặt vào thân, các càng vẫn còn nguyên, không có mùi tanh, ươn. Phần đuôi tôm sạch thường cúp đuôi xuống.

Ngược lại, với tôm bơm hóa chất, mình thường mập, căng và chắc bất thường. Phần đuôi, tôm bơm tạp chất thường xòe đuôi. Thân tôm thường nhợt nhạt, thân căng đến mức lộ rõ các đốt trên thân gần như bị giãn ra, nhất là đốt nối giữa đầu và thân. Tôm bị bơm thường có mang cứng, phồng căng trong khi mang tôm thường mềm, phẳng và hơi lỏng.

Theo Mạc Nhiên (Đời sống & Pháp luật)

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Món khoai tây bọc xúc xích chiên giòn vừa ngon lại lạ miệng bé vô cùng yêu thích. Không tốn quá nhiều thời gian để chế biến ra món ăn vừa giàu tinh bột lẫn protein cung cấp năng lượng cho trẻ nhỏ và kể cả bạn hoặc các anh chồng cũng nghiền món này cũng nên.
Nguyên liệu:

- Khoai tây
- Xúc xích
- Bột chiên xù
- Que xiên
- Đồ chấm: mù tạt vàng, sốt cà.
Thực hiện:

Bước 1: Khoai tây gọt vỏ, bỏ mắt, rửa sạch, cắt miếng. Sau đó đem luộc chín mềm. Thử khoai chín bằng cách dùng đũa xiên vào khoai, nếu thấy xiên dễ dàng là khoai đã chín. Khoai chín chắt hết nước ra khỏi nồi đặt tiếp lên bếp nhỏ lửa để cho khoai khô không bị nhão.
Bước 2: Khoai sau khi luộc chín, cho vào bát, thêm chút muối tiêu, lấy dụng cụ nghiền khoai hoặc thìa cứng để ấn cho khoai mềm mịn.
Bước 3: Dùng găng tay sạch, viên từng viên khoai tây nghiền, rồi ấn dẹt, đặt xúc xích hun khói vào giữa, bọc lại và dùng tay bóp và vê lại thành một khối.
Bước 4: Cứ bọc khoai tây với xúc xích lần lượt cho đến hết.
Bước 5: Cho bột chiên xù ra đĩa, lăn những viên khoai tây bọc xúc xích qua đĩa bột này sao cho viên khoai tây được phủ kín lớp bột chiên xù.
Bước 6: Cho nồi chống dính sâu lòng lên bếp, cho lượng dầu đủ sâm sấp mặt khoai là được. Dầu sôi bạn thả từng viên khoai vào nồi, lăn nhẹ tay để khoai được chín vàng đều các mặt. Không chiên trong lửa nhỏ vì sẽ làm khoai ngấm dầu vào trong dễ bở bục.
Bước 7: Khoai chín vàng đều bạn cho khoai ra đặt lên giấy thấm dầu cho hút bớt dầu mỡ thừa.
Khoai bọc xúc xích chiên sẽ ngon hơn khi ăn nóng, nếu thích bạn có thể xiên khoai vào que và bóp mù tạt vàng kèm tương cà để ăn cùng sẽ rất hợp đấy nhé!

Chúc bạn thành công với cách làm món khoai tây bọc xúc xích chiên giòn cho cả nhà!

Theo Trịnh Thùy Linh (Khám phá)

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Ngày nay, lò vi sóng đang trở thành một thiết bị nhà bếp được nhiều người tin tưởng và sử dụng. Việc dùng lò vi sóng sẽ giúp tiết kiệm thời gian nhưng bên cạnh sự tiện lợi đó thì nó cũng đi kèm với những nguy hại mà chúng ta không lường trước được.

Dưới đây là 6 hệ lụy khi dùng lò vi sóng nấu ăn mà các bà nội trợ nên biết.

1. Làm giảm các chất dinh dưỡng của thực phẩm

Sử dụng lò vi sóng để hâm thức ăn nhiều lần có thể làm giảm sút lượng dưỡng chất có trong thực phẩm. Do sự nung nóng điện môi của lò vi sóng mà các thành phần dưỡng chất trong thực phẩm sẽ dần bị biến đổi và mất đi.

Lò vi sóng làm nóng đồ ăn bằng cách xoay các phân tử nước qua lại. Và trong quá trình xoay qua xoay lại, các phân tử nước sẽ cọ xát vào nhau và tạo ra ma sát, là nguồn sản sinh nhiệt năng và dần dần làm thực phẩm nóng lên. Điều này khiến cho các cấu trúc phân tử trong thức ăn bị thay đổi và kết quả là giảm hàm lượng dinh dưỡng trong thực phẩm.

2. Hình thành các vi khuẩn gây hại khi hâm nóng sữa mẹ

Theo một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Pediatrics, dùng lò vi sóng để hâm nóng sữa mẹ sẽ làm sản sinh ra các vi khuẩn gây hại cho bé. Các nhà nghiên cứu đã làm thí nghiệm trên 22 mẫu sữa mẹ đông lạnh và được hâm lại bằng lò vi sóng ở nhiệt độ thấp hoặc cao và nhận thấy rằng, ở sữa mẹ được hâm lại, vi khuẩn E-coli phát triển rất nhiều.

Kết quả này cao hơn 18 lần so với sữa được nấu lại mà không dùng lò vi sóng. Các mẫu hâm trong lò vi sóng với nhiệt độ thấp làm giảm hoạt động của hệ enzyme tiêu hóa một cách đáng kể cũng như thúc đẩy sự phát triển của những vi khuẩn có hại cho trẻ.

3. Tạo chất gây ung thư trong thực phẩm

Các nhà nghiên cứu của Đức và Nga đã từng cảnh báo việc dùng lò vi sóng để hâm nóng những thứ được gói bằng nhựa hoặc đựng trong hộp nhựa có thể thải ra những chất độc hóa học nguy hiểm trực tiếp vào trong thức ăn của bạn.

Những chất hóa chất nguy hiểm đó bao gồm BPA, polyethylene terpthalate (PET), benzene, toluene, xylene. Chính vì mức độ nguy hiểm này, các bà nội trợ i không nên làm nóng bình sữa bằng nhựa của bé trong lò vi sóng.
4. Giảm lượng vitamin B-12 trong thực phẩm

Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Agricultural and Food Chemistry, các nhà khoa học đã tiến hành kiểm tra tác động của nhiệt vi sóng đối với lượng vitamin B-12 trong các thực phẩm như thịt bò sống, thịt lợn và sữa. Kết quả cho thấy khi hâm nóng sữa hoặc thịt trong lò vi sóng thì  lượng vitamin B-12 sẽ bị mất khoảng 30 - 40 %.

5. Có thể làm thay đổi máu trong cơ thể

Các nhà nghiên cứu lâm sàng của Thụy Sĩ cho biết các loại rau hoặc sữa được hâm nóng bằng lò vi sóng có thể làm giảm tế bào hồng cầu và tăng các tế bào máu trắng trong cơ thể. Mức cholesterol cũng tăng lên đáng kể sẽ gây nguy hiểm lớn cho sức khỏe.

6. Làm thay đổi nhịp tim của bạn

Đây cũng là một trong những tác động tiêu cực khi dùng lo vi sóng để nấu nướng. Với tần số thường là 2.45 GHZ, sóng vi sóng có thể gây hại đến cơ thể con người.

Một nghiên cứu được tiến hành bởi tiến sĩ Magda Havas tại trường đại học Trent (Canada) chỉ ra, mức độ bức xạ phát ra từ lò vi sóng ảnh hưởng đến cả nhịp tim của bạn. Do đó, khi bạn thấy hiện tượng bất thường như đau ngực hay nhịp tim không ổn định thì bạn cần phải ngừng sử dụng lò vi sóng ngay lập tức.

Theo Thanh Loan (medicaldaily) (Khám phá)